phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 6 z Chƣơng 2 : Phép biến hình và một phần thực trạng dạy học phép biến hình ở lớp 11 Trung học phổ thông Chƣơng 3: Sử dụng phần mềm Cabri II plus theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học giải toán phần “Phép đối xứng trục và phép vị tự” lớp 11 Trung học phổ thông 7 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Hoạt động học tập của học sinh Theo tác giả Phan Trọng Ngọ [42], “Học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhận thức, thái độ hay hành vi của các thể đó”. Với cách tiếp cận hợp tác hai chiều giữa dạy và học tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học (nội dung học), dưới sự điều khiển sư phạm của GV. Develay (1994) quan niệm rằng: Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lí thông tin lấy từ môi trường xung quanh.
Dù theo quan điểm nào các tác giả cũng có một nhận định chung về HĐ học là: - Chủ thể HĐ học là HS. Chủ thể học tập tự giác, tích cực. - Mục đích của HĐ học là chiếm lĩnh các khái niệm khoa học, tri thức về phương pháp, các kĩ năng, kĩ xảo (đối tượng của HĐ học) nhằm tạo sự biến đổi của chủ thể. - HĐ học là một quá trình tương tác giữa cá thể và môi trường, là một quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lí thông tin từ môi trường xung quanh.
Lêônchep, một HĐ luôn có chủ thể của hoạt động, động cơ của hoạt động, mục đích của hoạt động, điều kiện để thực hiện hoạt động, với mỗi thành tố trong cấu trúc của HĐ có các hoạt động, hành động và thao tác tương ứng liên hệ mật thiết với nhau. HĐ học là một dạng HĐ đặc trưng trong quá trình dạy học nên nó cũng có cấu trúc chung của một HĐ. Tuy nhiên trong mỗi thành tố lại có những đặc trưng riêng như: 8 z - Động cơ học tập: lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, hoàn thiện bản thân. - Mục đích: HS phải vượt qua giới hạn của những kiến thức đã có của mình để đạt tới những cái mà các em chưa có.
- HS giải quyết các nhiệm vụ của mình nhờ các hành động học tập. - Các hành động học tập được thực hiện bởi các thao tác tư duy đặc trưng ví dụ như: phân tích, tổng hợp, so sánh, tương tự hoá, đặc biệt hóa. - Hình thức: HĐ học tập điển hình được diễn ra trong thời gian trên lớp mà giáo viên giữa vai trò chỉ đạo, hướng dẫn và điều khiển. HĐ học và HĐ dạy là hai HĐ có chức năng khác nhau nhưng chúng đan xen và tương hỗ lẫn nhau.
Trong quá trình dạy học, hai HĐ trên cấu thành nên HĐ chung là HĐ dạy học. Chúng có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, thống nhất biện chứng với nhau, HĐ này là tiền đề của HĐ kia, trong đó HĐ dạy hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức và điều khiển HĐ học. Hơn nữa, HĐ học luôn chịu sự tác động của môi trường, một môi trường chứa dựng thông tin mà chủ thể cần phải tự giác, tích cực trong chọn nhập và xử lí thông tin đó. HĐ học tập luôn có động cơ học tập, mục đích học tập, hành động học tập và hình thức học tập tương ứng.
HĐ học gắn bó mật thiết, thống nhất biện chứng với HĐ dạy. Hoạt động giải toán của học sinh THPT Theo Phạm Văn Hoàn [29, tr.110], trong HĐ giải toán, HĐ dự đoán chiếm vị trí trung tâm nó xuất hiện ngay sau khi đã hiểu kĩ đề bài và phải dự đoán giới hạn phạm vi đi tìm lời giải. Tiếp theo trong tư duy diễn ra hai hành động trí tuệ: động viên và tổ chức kiến thức. Động viên thường bắt đầu bằng thao tác nhận biết một số yếu tố nào đó chứa đựng trong bài toán và được tiếp tục bằng thao thác nhớ lại những yếu tố khác đã quen thuộc và có liên quan đến yếu tố vừa nhận biết.
Hành động tổ chức bao hàm trong nó thao tác bổ sung và nhóm lại. Hành động tách biệt một chi tiết, một bộ phận ra khỏi cái tổng thể bao quanh nó nhằm tập trung chú ý vào chi tiết, bộ phận đó. Hành động kết hợp lại liên 9 z kết những chi tiết, bộ phận đã được xem xét lại với nhau trong cái toàn thể. Theo George Plolia [18] các thành tố trong HĐ giải toán có mối liên hệ được biểu thị qua sơ đồ sau: Hình: 1.
Sơ đồ biểu thị mối liên hệ của các thành tố trong hoạt động giải toán Tách biệt Nhận biết Nhóm lại Động viên Dự đoán Tổ chức Nhớ lại Bổ sung Kết hợp Trong sơ đồ, dự đoán đặt ở vị trí trung tâm, các cặp HĐ trí tuệ đối lập nhưng thống nhất với nhau như: Động viên- tổ chức, tách biệt- kết hợp đặt ở các đỉnh của hình vuông. Các thao tác trí tuệ được đặt trên các cạnh của hình vuông. Cơ chế HĐ tóm tắt như sau: Từ những chi tiết được động viên đi đến cái toàn thể có tổ chức, từ một chi tiết được phân biệt, được tách ra để nghiên cứu rồi lại liên kết lại với nhau có thể dẫn đến việc thay đổi quan niệm của người giải toán. Còn các thao tác trí tuệ sẽ xuất hiện khi người giải thực hiện các nhiệm vụ nhận thức.
Trong quá trình giải toán, cứ mỗi 10 z lần trí tuệ vận hành theo cơ chế trên, là một lần người giải toán nhìn lại bài toán ở khía cạnh khác nhau. Tóm lại, trong HĐ giải toán, HĐ dự đoán là hoạt động trọng tâm, là hoạt động quan trọng nhất. Có dự đoán thì mới giới hạn được phạm vi đi tìm giải. Tiếp đó trong tư duy diễn ra hai hành động trí tuệ là động viên và tổ chức kiến thức, mỗi hành động trí tuệ đó lại có các thao tác tương ứng.
Các hành động tổ chức, động viên, tách biệt, kết hợp quan hệ mật thiết và lôgic theo mô hình ở trên. Trong dạy học toán nói chung, dạy học giải toán hình học phẳng nói riêng HĐ dự đoán đúng hướng và chính xác hơn, phát huy hiệu quả nếu có sự hỗ trợ của CNTT-TT. Đặc biệt là phần mềm dạy học hình học “động” như Cabri II plus có thể được khai thác hợp lí bởi GV để xây dựng các công cụ, các hoạt động giúp HS dự đoán. Tích tích cực hoạt động của HS THPT 1.
Tính tích cực Tính tích cực là một sản phẩm vốn có của con người trong đời sống xã hội. Trong giáo dục, hình thành và phát triển tính tích cực của HS là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Theo từ điển Tiếng Việt (2003) của Viện ngôn ngữ học, “Tích cực là một trạng thái tinh thần, tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển”.Kharlamop [32], “Tính tích cực trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ với nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức cho chính mình”. Tính tích cực của con người thể hiện trong HĐ đặc biệt là trong HĐ chủ động của chủ thể.
Trong dạy học, tính tích cực học tập thực chất là tích cực nhận thức nhưng chúng không đồng nhất. Aristova nhìn nhận tính tích cực dưới góc độ triết học, coi tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo chủ thể đối với đối tượng nhận thức. Tính tích cực nhận thức đòi hỏi phải có những nhân tố như tính lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức, đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi lựa chọn đối tượng, cải tạo đối tượng trong HĐ nhằm giải quyết vần đề. Thiếu những nhân tố trên nó chỉ là một trạng thái HĐ nhất định của con người chứ không phải là tính tích cực nhận thức.
Như vậy, tính tích cực nhận thức của HS được cấu thành bởi nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ và không tách rời, chúng liên hệ khăng khít và quy định lẫn nhau.Rôdak cho rằng, tính tích cực nhận thức biểu hiện qua sự căng thẳng chú ý, dựa vào sự tưởng tượng, phân tích, tổng hợp.Ônkon quan niệm tính tích cực là sự mong muốn không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động. Trong cuốn “Những cơ sở lý luận dạy học của sự tích cực hóa trong HĐ của sinh viên” tác giả R.Nizamôv nhấn mạnh tính tích cực trong HĐ nhận thức; trong HĐ tư duy như phân tích, tổng hợp; sự căng thẳng trí tuệ; quan hệ giữa tính tích cực nhận thức với các yếu tố của quá trình tâm lý cá nhân như quá trình nhận thức, quá trình tình cảm, quá trình ý chí.Nizamôv khẳng định tính tích cực nhận thức là một hành động ý chí, một trạng thái HĐ được đặc trưng bởi sự cố gắng của HĐ nhận thức cá nhân. Theo Đặng Vũ Hoạt, tính tích cực nhận thức biểu hiện ở chỗ huy động mức cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư duy.Serbacôp đã tìm ra bản chất tâm lý của tính tích cực nhận thức. Tác giả cho rằng tính tích cực nhận thức đặc trưng cho quá trình thay đổi liên tục bên trong các mô hình tâm lý HĐ nhận thức của cá nhân.
Mô hình tâm lý được tạo thành bởi sự kết hợp các yếu tố trong HĐ học tập của HS như nhận thức, tình cảm, ý chí. 12 z Theo Nguyễn Ngọc Quang, tính tích cực học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hướng rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những công tác trí óc và chân tay nhằm nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng chúng vào trong HĐ học tập và thực tiễn.Sukia chia tính tích cực làm 3 cấp độ: tích cực bắt trước và tái hiện; tích cực tìm tòi; tích cực sáng tạo. Qua các quan điểm trên chúng tôi cho rằng: - Tính tích cực nhận thức là một trạng thái HĐ của chủ thể đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức.