Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông “Mục đích chính của giáo dục là đào tạo những con người có khả năng sáng tạo những điều mới mẻ, chứ không đơn giản là sao chép những gì thế hệ trước làm được” Jean Piaget (1896 - 1980) - nhà tâm lý giáo dục người Thụy Sĩ 1. Mục tiêu giáo dục thiên niên kỷ của UNESCO “Giáo dục” có nguồn gốc từ chữ La tinh “paidagos” có nghĩa là dẫn dắt ai qua đường. Điều đó nghĩa bóng là sự đào tạo, bồi dưỡng các thế hệ kế tục nhau để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trải qua các quá trình biến động lịch sử xã hội loài người, mục tiêu giáo dục cũng thay đổi sao cho phù hợp, đáp ứng nhu cầu xã hội đương đại.
Từ đầu thế kỷ XX, sự phát triển thần tốc của khoa học kỹ thuật, sự giao lưu trên các lĩnh vực giáo dục càng mạnh mẽ, các quốc gia dân tộc ngày một xích lại gần nhau khiến các mục tiêu giáo dục cũng thay đổi trong những khoảng thời gian ngày càng rút ngắn. Thông điệp: “Học tập - một kho báu tiềm ẩn” là nhan đề Báo cáo của Hội đồng Giáo dục thuộc UNESCO nói về “Giáo dục thế kỷ XXI” đề ra từ năm 1997 (Hội đồng này có 15 thành viên đến từ 15 nước trên thế giới, do ông J.Delors nguyên Chủ tịch Hội đồng Châu Âu (1985 - 1995) làm Chủ tịch). [1] Báo cáo này đã khẳng định vai trò cơ bản của giáo dục trong sự phát triển của xã hội và của mỗi cá nhân. Nhấn mạnh học tập suốt đời như là một chìa khóa để mỗi cá nhân thích ứng với những thách thức của thế kỷ XXI.
Báo cáo đề xuất đến “Bốn trụ cột của giáo dục” mà việc học là hạt nhân với sự xác định: Giáo dục phải được tổ chức xoay quanh bốn loại hình cơ bản trong cuộc đời mỗi con người, chúng sẽ là những trụ cột của kiến thức: - Học để biết là nắm những công cụ để hiểu. - Học để làm là phải có những khả năng hoạt động sáng tạo tác động vào môi trường sống của mình. - Học để cùng chung sống là tham gia và hợp tác với những người khác trong mọi hoạt động của con người. - Học để làm người là sự tiến triển quan trọng nảy sinh từ ba loại hình trên.
Báo cáo khuyến nghị: “Cả bốn con đường kiến thức trên là một thể thống nhất, bởi vì có rất nhiều mối quan hệ, liên hệ và tác động giữa chúng với nhau”. Vài nét về mục tiêu giáo dục trung học phổ thông Việt Nam Giáo dục Việt Nam cũng có những biến chuyển to lớn. Ta điểm qua một vài mốc quan trọng từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945: năm 1950, chúng ta mới tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất, nhằm xây dựng nền giáo dục dân chủ nhân dân. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai năm 1956 phục vụ cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất đến năm 1979, Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương (Khóa III) quyết định tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba, để xây dựng nền giáo dục chuyển từ dân chủ nhân dân sang xã hội chủ nghĩa khi cả nước thống nhất. Các cuộc cải cách giáo dục này đã đưa đến những thành tựu đáng kể trong việc đào tạo các thế hệ trẻ trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc rồi cả nước. Từ khoảng sau những năm 90 cho đến nay, mục tiêu giáo dục phổ thông ở Việt Nam vẫn cơ bản giữ vững quan điểm giáo dục toàn diện, chú trọng phát triển cả bốn mặt đức, trí, thể, mỹ nhằm đào tạo những người lao động mới có khả năng xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN. Bên cạnh đó, nhấn mạnh thêm một số điểm cho phù hợp với tình hình mới: coi trọng giáo dục tư tưởng, chú trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, một mặt phải nắm vững làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại mà nhân loại đã tích lũy được; mặt khác phải có tư duy sáng tạo, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam; người lao động mới phải vừa có ý thức cộng đồng, tinh thần tập thể vì sự nghiệp chung hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, vừa phải phát huy tính tích cực cá nhân, năng động, chủ động đem hết tài năng, sức lực của mình cống hiến cho đất nước.
Mục tiêu giáo dục môn học vật lí THPT ở Việt Nam 1. Đặc điểm của môn học vật lí ở trường phổ thông • Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất cho nên những kiến thức vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên. • Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm. Phương pháp của nó chủ yếu là phương pháp thực nghiệm.
Đó là phương pháp nhận thức có hiệu quả trên con đường tìm kiếm chân lí khách quan. • Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên kiến thức vật lí có liên quan với các vấn đề của triết học, tạo điều kiện phát triển thế giới quan khoa học của học sinh. • Vật lí học là cơ sở lí thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị sử dụng trong đời sống và sản xuất. • Vật lí học là một môn khoa học chính xác đòi hỏi phải vừa có kĩ năng quan sát tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy logic, chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi, thảo luận để kiểm chứng chân lí.
Mục tiêu cụ thể về giáo dục môn học vật lí THPT ở Việt Nam Đối với các môn học tự nhiên nói chung và với bộ môn vật lí nói riêng, mục tiêu dạy học hướng tới: • Về kiến thức: Trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại bao gồm: các khái niệm vật lí, các định luật, nguyên lý vật lí, những nét chính của các thuyết vật lí, phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình hóa trong vật lí, những ứng dụng quan trọng của vật lí trong đời sống và sản xuất. • Về kĩ năng: chú trọng rèn luyện cho học sinh các kĩ năng: - Thu thập thông tin từ quan sát thực tế, thí nghiệm, điều tra, sưu tầm tài liệu, tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng, khai thác mạng internet, … - Các kĩ năng xử lí thông tin: xây dựng bảng, biểu đồ, vẽ đồ thị, rút ra kết luận bằng suy luận quy nạp, suy luận diễn dịch, khái quát hóa, … - Các kĩ năng truyền đạt thông tin: thảo luận khoa học, viết báo cáo, … - Kĩ năng vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng. - Giải bài tập vật lí phổ thông. - Khả năng đề xuất khoa học và thí nghiệm kiểm tra.
• Về tình cảm, thái độ, tác phong, cần bồi dưỡng: - Sự hứng thú học tập, lòng yêu thích khoa học. - Tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, tỉ mỉ. - Tính trung thực trong khoa học. - Tinh thần hợp tác trong học tập và nghiên cứu.
Mục tiêu giáo dục các môn khoa học tự nhiên ở nước ta từ trước đến nay được xác lập trên ba lĩnh vực: nhận thức, kĩ năng và thái độ trong đó quy định cụ thể những yêu cầu trong các lĩnh vực và điều quan trọng là các mục tiêu có thể cụ thể hóa thành những tiêu chí đánh giá chung cho phép đo lường – đánh giá thành quả học tập của từng học sinh. Có thể nói, các mục tiêu giáo dục các môn khoa học về tự nhiên, theo thời gian, đã thay đổi theo hướng tích cực. Tuy nhiên, cách tiếp cận mục tiêu giáo dục của Việt Nam hiện nay vẫn là cách tiếp cận giáo dục kiểu truyền thống. Bên cạnh những ưu việt không thể phủ nhận thì đồng thời nó cũng thể hiện những hạn chế lớn, đó là: giáo dục tạo các sản phẩm giáo dục (nhân cách) khuôn đúc, nó không quan tâm đến sự phong phú, đa dạng vốn có của nhân cách cá nhân, đồng nghĩa với không quan tâm đến sự khác biệt, phong phú, đa dạng của phong cách học tập, phong cách tư duy…, cũng có nghĩa là không quan tâm đến định hướng nghề nghiệp khác nhau của người học.
Mục tiêu kiểu truyền thống thể hiện sự chờ đợi kết quả học tập như nhau ở tất cả học sinh, dù có sự khác biệt cá nhân thế nào đều đạt tới một chuẩn mực nhất định sau một khóa học nào đó. Để thấy rõ hơn những nét hạn chế mà mục tiêu giáo dục theo lối tiếp cận truyền thống đem lại, chúng ta sẽ đối chiếu và so sánh giữa mục tiêu giáo dục môn học vật lí của Việt Nam hiện nay với những mục tiêu định hướng giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO.1: Bảng đối chiếu mục tiêu giáo dục môn học vật lí của Việt Nam hiện nay với những mục tiêu định hướng giáo dục thế kỉ XXI của UNESCO MTGD MÔN HỌC VẬT LÍ CỦA MTGD THIÊN NIÊN KỶ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY UNESCO Mục tiêu kiến thức Học để biết (Mục tiêu nhận thức) a) Những khái niệm tương đối Thu thập thông tin, chuyển hóa chính xác về sự vật, hiện tượng, quá thành kiến thức. Nhấn mạnh tạo lập tri trình vật lí thường gặp. thức như công cụ nhận thức và tư duy.
b) Những định luật, nguyên lý vật lí Tri thức vừa là phương tiện, vừa là mục quan trọng nhất. c) Những nét chính của các thuyết vật lí. d) Những hiểu biết cần thiết về phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình. e) Những nguyên tắc cơ bản của những ứng dụng quan trọng của vật lý trong đời sống và sản xuất.
Mục tiêu kĩ năng Học để làm (Mục tiêu kĩ năng) a) Thu tập thông tin từ quan sát, thí nghiệm vật lí, từ tài liệu, và các nguồn - Coi trọng kĩ năng làm việc (theo thông tin đại chúng … nhóm, sáng kiến, kĩ năng giải quyết vấn b) Xử lý thông tin về vật lí (xây đề, óc độc lập, phê phán …) dựng biểu đồ, vẽ đồ thị, suy luận, khái - Kỹ năng sống: giao tiếp, hợp tác, quát hóa …). điều hành, quản lý. c) Truyền đạt thông tin về vật lí. - Sau đó mới tới các kỹ năng thuần d) Giải thích các hiện tượng vật lí.
e) Các kĩ năng thực hành (sử dụng dụng cụ, đo đạc, lắp ráp thí nghiệm …).