Chương 1: Lý luận về chuỗi 3F và ứng dụng Chương 2: Thực trạng ứng dụng mô hình chuỗi cung ứng 3F đối với thực phẩm sạch xuất khẩu sang Nga tại công ty cổ phần tập đoàn Masan (Masan Group) Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị đẩy mạnh ứng dụng mô hình chuỗi cung ứng 3F đối với thực phẩm sạch xuất khẩu sang Nga của công ty cổ phần tập đoàn Masan (Masan Group) Sau đây là nội dung chi tiết. 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ CHUỖI 3F VÀ ỨNG DỤNG 1. Một số lý thuyết cơ bản liên quan 1. Khái niệm về thực phẩm sạch Thực phẩm sạch là thực phẩm không chứa chất bẩn, an toàn đối với sức khỏe con người.
Cụ thể: – Không chứa tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất, kháng sinh cấm hoặc vượt quá giới hạn cho phép. – Không chứa tạp chất (kim loại, thuỷ tinh, vật cứng …). – Không chứa tác nhân sinh học gây bệnh (vi rút, vi sinh vật, ký sinh trùng). – Có nguồn gốc, xuất xứ đầy đủ, rõ ràng.
– Được kiểm tra, đánh giá chứng nhận về an toàn thực phẩm Thực phẩm sạch còn phải được đảm bảo sạch trong quá trình đóng bao bì, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, đảm bảo các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm. Hiện nay, Việt Nam cũng đã có các văn bản luật, nghị định, thông tư để quy định, hướng dẫn cụ thể về các yếu tố liên quan đến thực phẩm như Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá 2007; luật An toàn thực phẩm 2010,…. Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân sản xuất thực phẩm sạch cũng cần tuân thủ các quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt như Viet GAP, Global GAP,… 1. Mô hình chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng: là sự hợp tác, liên kết của nhiều doanh nghiệp trong một cấu trúc gồm các dòng chảy và các mối ràng buộc của các nguồn lực chủ chốt tham gia vào chuỗi.
Trong đó, cấu trúc của chuỗi cung ứng xuất phát từ liên kết các hoạt động của doanh nghiệp với khách hàng cũng như mạng lưới phân phối. Các hoạt động kinh doanh nhờ đó hình thành từ khâu mua nguyên liệu đầu vào cho đến khâu chuyển giao sản phẩm và dịch vụ tới tay khách hàng. Quản trị mối6quan hệ Các dòng: thông tin, sản phẩm, dịch vụ, tài chính, tri thức Hoạt động Mạng lưới tích hợp Mạng lưới phân phối phân phối Nguyên vật liệu Khách hàng Nhu cầu khách Thu hàng mua Giao vận Sản xuất Nguồn lực – thông tin – năng lực cạnh tranh – vốn – nguồn nhân lực Hình 1. Mô hình chuỗi cung ứng liên kết Nguồn: Giáo trình Quản trị chuỗi cung ứng - TS.
Nguyễn Thành Hiếu - 2015 Các hoạt động kinh doanh được hình thành bắt đầu từ khâu mua nguyên vật liệu đầu vào, trải qua các khâu sản xuất, vận chuyển, sản phẩm được phân phối tới tận tay khách hàng. Trong mô hình trên, ngoài các yếu tố về sản xuất và phân phối, còn có các nhân tố ảnh hưởng quyết định như nguồn lực, thông tin,…. Sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các bên từ khâu thu mua nguyên vật liệu đầu vào cho đến sản xuất và phân phối sản phẩm tạo ra một chuỗi khép kín, mà trong đó, mỗi tổ chức tham gia vào chuỗi cung ứng đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu, tiêu chuẩn mà khấu phần của mình cần đạt được. Nhà xuất khẩu – nhà nhập khẩu Trong quá trình buôn bán hàng hoá xuyên quốc gia, không thể thiếu những nhà xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm.
Người xuất khẩu là cá nhân thường trú hoặc pháp nhân có trụ sở tại lãnh thổ của một bên, nơi hàng hóa được xuất khẩu bởi 7 chính cá nhân hoặc pháp nhân đó. Nhiệm vụ của nhà xuất khẩu là xuất đi sản phẩm phù hợp với thị trường đích. Nhà xuất khẩu có thể là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu hoặc chỉ là bên trung gian thương mại chịu trách nhiệm xuất khẩu sản phẩm, hàng hoá cho bên nhập khẩu. Nhà nhập khẩu là cá nhân thường trú hoặc pháp nhân có trụ sở tại lãnh thổ của một bên, nơi hàng hóa được nhập khẩu bởi chính cá nhân hoặc pháp nhân đó.
Nhiệm vụ của nhà nhập khẩu là làm đầy đủ thủ tục để nhận được hàng hoá do nhà xuất khẩu cung cấp. Lý luận về chuỗi cung ứng quốc tế Chuỗi giá trị thực phẩm là mạng lưới của các bên liên quan tham gia vào việc trồng, chế biến và bán thực phẩm cho người tiêu dùng - từ nông trại đến bàn ăn, bao gồm: (1) Các nhà sản xuất phụ trách việc nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các mặt hàng thực phẩm, ví dụ như trồng ngô và chăn nuôi gia súc; (2) Bộ phận chế biến, bao gồm quá trình sản xuất sản phẩm và rao bán hàng hóa trên thị trường; (3) Các nhà phân phối, bao gồm cả các nhà bán buôn và bán lẻ, thực hiện việc tiếp thị và bán thực phẩm; (4) Người tiêu dùng là người sẽ mua và tiêu thụ đồ ăn; (5) Các chính phủ, tổ chức phi chính phủ (NGO), phụ trách việc quản lý vĩ mô và điều chỉnh các chuỗi giá trị thực phẩm toàn bộ từ sản xuất đến tiêu dùng (Bảng 1. Sự hợp tác giữa các bên liên quan như đã kể trên trong chuỗi giá trị thực phẩm đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Giờ đây không còn sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các bên liên quan mà chủ yếu sẽ là sự liên kết giữa các chức năng khác nhau ở bất cứ vị trí nào trong chuỗi giá trị này.
Lý do là vì hiện tại, chuỗi cung ứng quốc tế ngành thực phẩm đã phát triển và đạt đến phạm vi toàn cầu. Mặt khác, một số mặt hàng thực phẩm có chất lượng thấp được phát hiện đều bị thu hồi nên giờ đây vấn đề an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc đang trở thành mối quan tâm lớn trong xã hội. Mỗi bên liên quan đều sẽ phải chịu trách nhiệm từ nguồn gốc xuất xứ, xử lý đến kiểm soát chất lượng của thực phẩm vì một căn bệnh liên quan đến thực phẩm có 8 thể bắt nguồn từ bất cứ bộ phận nào trong chuỗi giá trị và có thể làm hỏng danh tiếng của cả một công ty, kể cả khi nó không thực sự có lỗi. Do đó, các chính sách và quy định an toàn thực phẩm yêu cầu đầu vào và sự hợp tác của tất cả các bên.
Phần sau sẽ đi sâu hơn nữa về các vấn đề, xu hướng, và thực tiễn của các bên liên quan nêu trên để cung cấp các cơ hội cải tiến và hợp tác trong chuỗi thực phẩm có thể ứng dụng tại doanh nghiệp.1: Mô hình năm bên liên quan trong chuỗi cung ứng quốc tế ngành thực phẩm 5. Ngƣời tiêu chính phủ/ 1. Nhà sản xuất chế biến phân phối dùng NGO/ Bên điều hành Vai trò Nghiên cứu và Thu hoạch Phân Mua sắm Sức khỏe và phát triển Chế biến phối Tiêu dùng an toàn công Trồng trọt Giá trị gia Bán lẻ cộng Chăn nuôi tăng sau chế Chính sách Trao đổi biến cộng đồng Sản xuất Hành lang Tiếp thị và pháp lý cho bán hàng hoạt động sản xuất và cung ứng thực phẩm Vấn đề Khả năng quản Chiến lược Chiến Giá thực Thực phẩm chính lý (ví dụ: thiếu (ví dụ, thực lược (ví dụ: phẩm (ví dụ: và sản phẩm an sót trong việc thi các quy người tiêu giá quá cao, toàn quản lý nhãn định mang dùng) biến động giá) An ninh (ví hàng và rủi ro) tính toàn cầu) Chiến An ninh dụ: tài nguyên, Tính chiến Đạt được lược cho lương thực (ví đất đai và thực lược (ví dụ: quy mô (ví chuỗi cung dụ: tính khả phẩm sẵn có và chiến lược thị dụ, mua bán ứng (ví dụ: dụng) phân bổ) trường, mua bán và sáp nhập) hội nhập An toàn thực Chính sách và và sáp nhập có Chiến lược theo chiều phẩm (ví dụ: hỗ trợ quy mô) chuỗi cung dọc, an truy xuất Tình trạng tài ứng (ví dụ: ninh, an nguồn gốc) chính (ví dụ, đầu hội nhập theo toàn) Sức khỏe (ví vào và giá bán chiều dọc, an dụ: chứng béo biến động ninh, an toàn) phì) Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1. Các nhà sản xuất Các nhà sản xuất lương thực chính là hàng triệu các doanh nghiệp nông 9 nghiệp nhỏ, thường là thế hệ thứ ba hoặc thứ tư của các trang trại gia đình, và một vài công ty quốc gia, thậm chí là những công ty quốc tế.
Các doanh nghiệp nông nghiệp thường có quy mô nhỏ hơn so với các nhà cung cấp đầu vào toàn cầu (ví dụ: hạt giống, phân bón, máy móc thiết bị) và tập trung theo định hướng lĩnh vực dựa trên nhu cầu của khách hàng. Nhìn chung nông dân và các hộ sản xuất nông nghiệp nhỏ và vừa có xu hướng mua lẻ và bán buôn. Nhưng với xu hướng hiện nay, nông dân đang cố gắng chuyển từ việc bán những gì họ sản xuất sang sản xuất những gì họ biết, họ có thể bán hay sản xuất những gì mà thị trường có nhu cầu. Sản xuất là một công đoạn mang lại giá trị gia tăng thấp.
Người tiêu dùng có thể dễ dàng chấp nhận nếu nghĩ rằng giá thực phẩm tăng là do lạm phát chứ không phải do lợi nhuận của các nhà sản xuất, nhưng họ đã nhầm. Sự tăng giá thực phẩm là do việc thu hoạch thấp hơn so với dự toán của các nhóm ngành thực phẩm chăn nuôi như bò sữa, lợn, gia cầm, bò thịt,… khi mà các thực phẩm này đều khó sản xuất mà lợi nhuận mang lại không cao. Ngay cả các nhà sản xuất ngũ cốc cũng đều phải đau đầu vì giá cao không đủ bù đắp được cho sản lượng thấp và chi phí phân bón cao. Đứng giữa những nhà cung cấp và những nhà bán lẻ đầy uy lực, họ lại càng không thể tăng giá sản phẩm.
Không ai muốn lạm phát thực phẩm nên áp lực lên khâu sản xuất trong chuỗi cung ứng ngày càng tăng cùng với sự đi xuống của lợi nhuận. Người sản xuất, cơ bản đang chịu gánh nặng này và càng bị mắc kẹt trong những khó khăn trước mắt. Những vấn đề của người sản xuất Vấn đề hiệu quả của quy mô: Trên khắp thế giới, phần lớn các trang trại đều nhỏ, thuộc quyền sở hữu tư nhân và các doanh nghiệp gia đình. Hầu hết các doanh nghiệp độc lập này phải vật lộn với quy mô kinh tế.