Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Mô hình dạy học 5E 1. Khái niệm Như đã đề cập ở phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, mô hình dạy học khám phá 5E ra đời từ đề xuất của Rodger W.
Bybee và cộng sự. Mô hình 5E thực chất là mô hình dạy học, là một mẫu hướng dẫn học tập khám phá dựa trên thuyết kiến tạo gồm 5 giai đoạn: Engage (tạo hứng thú/kích thích động cơ học tập), Explore (khám phá), Explain (giải thích), Elaborate (mở rộng/vận dụng), Evaluation (đánh giá) (Lakenna Chitman, Kathy Kopp, 2013). Đặc điểm của mô hình dạy học 5E Mô hình dạy học 5E này gồm 5 giai đoạn và có những đặc điểm chính như sau: Giai đoạn 1: Tạo hứng thú (Engage) Giáo viên (GV) dựa vào quan niệm hoặc kiến thức đã biết của học sinh (HS) để dẫn dắt họ tham gia vào việc hình thành khái niệm mới thông qua việc sử dụng các hoạt động ngắn nhằm thúc đẩy sự tò mò và gợi ra những kiến thức có sẵn. Hoạt động này tạo sự kết nối giữa kinh nghiệm mà các em đã có trước đó và hiện tại, phơi bày ra những quan niệm trước đây.
Giai đoạn này kích thích sự quan tâm của HS, dẫn dắt HS vào bài học. Giai đoạn 2: Khám phá (Explore) Trải nghiệm khám phá tạo điều kiện cho HS bộc lộ những quan niệm sai lầm vốn có của họ, khuyến khích họ trao đổi, thảo luận với nhau để đề xuất các giả thuyết, thu thập thông tin, tìm kiếm bằng chứng, xây dựng các kế hoạch hành động nhằm kiểm chứng các giả thuyết ban đầu, từ đó tìm ra các kết luận mang tính khoa học. Giai đoạn 3: Giải thích (Explain) HS tiến hành giải thích chứng minh sự hiểu biết của mình về vấn đề, về những điều vừa khám phá ra, tất cả các giải thích đều dựa trên kinh nghiệm của người học, từ các quan sát, từ thu thập dữ liệu, kết quả thu được từ thực hành thí nghiệm, … ở giai đoạn khám phá. Sau quá trình trao đổi thông tin với các thành viên trong nhóm, Luan van 9 HS trình bày ý kiến của họ trước tập thể lớp.
Sau đó, GV định hướng và điều chỉnh câu trả lời của HS bằng các thuật ngữ, các khái niệm chính xác, đồng thời giải thích rõ lại để HS hiểu sâu về vấn đề đã đặt ra lúc đầu. Ở giai đoạn này, GV có thể chốt lại kiến thức mới để HS lưu trữ thông tin vào bộ nhớ lâu dài. Giai đoạn 4: Mở rộng/ Vận dụng (Extend/Elaborate) Giai đoạn này, GV tạo cho HS không gian để vận dụng những gì đã học để giải quyết các tình huống có vấn đề trong học tập cũng như trong thực tiễn cuộc sống. GV cũng tạo điều kiện cho HS thực hành và vận dụng các kiến thức đã học được ở giai đoạn khám phá và giải thích để cho HS làm chủ các kiến thức được sâu sắc hơn, nắm vững các kĩ năng hơn và có thể áp dụng được các kiến thức vào trong những tình huống và hoàn cảnh đa dạng khác nhau.
Giai đoạn 5: Đánh giá (Evaluate) Đánh giá diễn ra suốt quá trình dạy và học. HS tự đánh giá kiến thức và năng lực của mình và GV đánh giá sự tiến bộ của HS so với các mục tiêu đặt ra. Các bước của mô hình 5E có thể được tóm tắt theo sơ đồ của Duran (Duran, L.B & Duran, E, 2004): Engage (Tạo hứng thú) Evaluate Explore (Đánh giá) (Khám phá) 5E Elaborate Explain (Vận dụng/ (Giải thích) Mở rộng) Hình 1. Mô hình dạy học 5E (5E instructional model) Luan van 10 Hình 1.1 cho thấy các giai đoạn của mô hình 5E tạo thành một vòng tròn khép kín và liên tục, từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5.
Đây là hình ảnh thể hiện một chu trình học tập liên tục của HS, các hoạt động học tập diễn ra tuần hoàn và gắn kết chặt chẽ với nhau giúp HS sẽ tiếp nhận kiến thức khoa học một cách logic. Vai trò của mô hình dạy học 5E Mỗi mô hình học tập có thể được áp dụng bởi nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học khác nhau, tùy vào mục đích dạy học của mình mà chọn mô hình cho phù hợp. Mô hình 5E là mô hình học tập khám phá dựa trên nền tảng lí thuyết kiến tạo. Lí thuyết kiến tạo tác động trực tiếp đến việc xây dựng chương trình giáo dục, việc giảng dạy và đánh giá kết quả học tập của HS (Ngô Hiệu và Nguyễn Huyền Trang, 2016).
Cụ thể là: + Về chương trình: Thuyết kiến tạo đòi hỏi phải loại bỏ cái gọi là chương trình chuẩn. Thay vào đó khuyến khích việc sử dụng các chương trình cá biệt hóa người học, được thiết kế ưu tiên cho nhận thức của HS. + Về việc giảng dạy: Nhà giáo dục tập trung vào việc tạo lập mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng và việc xây dựng những hiểu biết mới cho người học. Thiết kế bài giảng theo hệ thống các câu hỏi và vấn đề mở, nhằm khuyến khích người học phân tích, chứng minh và nhận định các giả thuyết, kích thích mở rộng sự trao đổi lẫn nhau giữa các HS.
+ Về việc đánh giá: Thuyết kiến tạo đòi hỏi phải loại bỏ những bài kiểm tra chuẩn và việc phân loại các mức độ. Thay vào đó, đánh giá trở thành một phần của quá trình học tập để người học được tham gia với vai trò là người tự điều khiển quá trình phát triển trí tuệ của bản thân. Như vậy, tổ chức các hoạt động dạy học theo lí thuyết kiến tạo đều tập trung vào việc phát huy tính chủ động và tích cực tư duy của người học; thông qua đó, người học có thể tự tìm kiếm, phát hiện và khám phá vấn đề và giải quyết các vấn đề trong quá trình học tập. Có thể nói rằng, người học được chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động thông qua các hoạt động dưới vai trò tổ chức, định hướng của người dạy.
Tuy nhiên bất kì mô hình dạy học nào cũng có giới hạn của nó, dưới đây chúng tôi chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của mô hình dạy học 5E. Luan van 11 Ưu điểm: - Khơi dậy được sự say mê, phấn khởi, hứng thú tìm tòi khám phá và phát huy được tính tích cực học tập cho HS; - Giúp HS nắm vững kiến thức, phát triển được khả năng tìm tòi khám phá, xem xét vấn đề một cách toàn diện. Qua đó, HS sẽ học được cách vận dụng tri thức vào thực tiễn, phát triển khả năng tư duy, khả năng hợp tác và thảo luận để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất; - HS có thể tự phát hiện ra vấn đề, đưa ra giải pháp và giải quyết vấn đề, rút ra kiến thức khoa học. Đây là tiền đề cho việc tự học, làm chủ được phương pháp nghiên cứu khoa học của HS trong tương lai; - Hình thành cho HS sự tự tin vào chính bản thân mình; - Phát triển kĩ năng làm việc nhóm, nâng cao tinh thần hợp tác và chia sẻ; - Góp phần vào việc hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, một năng lực có vai trò quan trọng giúp con người có khả năng thích ứng với sự phát triển của xã hội trong thời đại mới.
Hạn chế: - Thiếu sự hướng dẫn kịp thời của GV, các hoạt động học tập có thể mất nhiều thời gian đối với một số HS và có khi còn sai lầm, không mang lại hiệu quả; - Phương pháp này đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian và công sức; không ngừng rèn luyện, học hỏi. Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 1. Khái niệm về năng lực Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học đòi hỏi nội dung chương trình và các phương pháp giáo dục phải hướng đến việc hình thành và phát triển các năng lực cho HS, giúp HS tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo giải quyết được mọi vấn đề trong học tập và cuộc sống. Năng lực Dự án DeSeCo nhằm định hướng phát triển việc đánh giá PISA cho rằng năng lực là sự kết hợp của tư duy, kĩ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể Luan van 12 học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ (New Zealand, 2002).
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO, 2007) định nghĩa năng lực là những hành vi, kiến thức cụ thể và khả lượng (đo lường được) cho phép tạo ra hoặc dự báo một mức hiệu suất cao trong một vị trí hoặc bối cảnh công tác nào đó. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018), quan niệm “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” Theo Hoàng Phê (2003), năng lực được hiểu là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; là phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Theo Hoàng Hòa Bình (2015) đã tổng hợp những quan niệm về năng lực của một số tác giả và đưa ra mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành năng lực dưới sơ đồ sau: CẤU TRÚC BỀ MẶT (ĐẦU VÀO) Kiến thức Kĩ năng Thái độ NL hiểu NL làm NL ứng xử CẤU TRÚC BỀ SÂU (ĐẦU RA) Hình 1.
Mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành năng lực theo Hoàng Hòa Bình (2015) Luan van 13 Hình 1.2 cho thấy mối quan hệ giữa nguồn lực (đầu vào) với kết quả (đầu ra). Ở đầu vào (cấu trúc bề mặt), năng lực được tạo thành từ kiến thức, kĩ năng và thái độ. Ở đầu ra (cấu trúc bề sâu), các yếu tố đó trở thành năng lực hiểu, năng lực làm và năng lực ứng xử.