Chương I: BOI CANH HÌNH THÀNH DE TÀI, MỤC TIỂU VA NHIỆM VU LUẬN VĂN.1 Bồi cảnh hình thành đề tài luận văn Suy thận ngày cảng được biết đến như là một mối lo ngại bởi những hậu qua nặng nề của bệnh gây ra đối với sức khoẻ con người, bởi việc điều trị tốn kém và bởi tỉ lệ người mắc bệnh ngày càng có xu hướng gia tăng. Hiện nay để điều trị cho những bệnh nhân bị suy thận mạn tính có ba phương pháp là ghép thận, chạy thận nhân tạo và lọc màng bụng. Tuy nhiên đối với mỗi phương pháp đều vấp phải những khó khăn riêng. Ghép thận là phương pháp ưu thế nhất nhưng kinh phí để thực hiện một ca ghép thận rất cao, hơn nữa ngân hàng thận của chúng ta chưa có nên mới chỉ thực hiện ở các trường hợp hiến, tặng thận cho nhau trong phạm vi gia đình.
Sau khi ghép thận nếu thận ghép bị dao thải thì bệnh nhân lại được lọc máu. Ngay cả sau ghép thận vẫn phải điều trị bảo tôn. Phương pháp loc máu bằng chạy thận nhân tạo chỉ thực hiện tại những có sở y tế có điều kiện mà những cơ sở này ở nước ta chỉ đếm trên đầu ngón tay. Phương pháp nay không chỉ là nỗi ám ảnh của người bệnh mà còn không đủ tiền trang trải cho chỉ phí lọc máu.
Lọc màng bụng là phương pháp tương đối ít chi phí hơn, nhưng lại dé bị nhiễm trùng 6 bụng do vi khuẩn nhiễm qua thành bụng vùng đặt ống thông dẫn tới viêm phúc mạc và nhiều nhiều bién chứng nguy hiểm khác. Trong bối cảnh ấy phòng thí nghiệm công nghệ laser dé xuất chương trình với tên gọi: “Nghiên cứu ứng dụng laser công suất thấp trong điều trị suy thận” với tiêu chí Thị Điều Luan Văn Thạc Sĩ từng bước giảm dan độ suy thận, nhằm tránh sử dụng các phương pháp như: ghép thận, chạy thận nhân tạo, và lọc màng bụng trong chữa trỊ. Đề tài luận văn thạc sĩ với tên gol: “Ung dung laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị suy thận” chính là bước đầu của chương trình nghiên cứu trên.2 Mục tiêu của đề tài luận văn 1.1 Mục tiêu trước mắt Xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp điều trị suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp. Trên cơ sở ây, thiết kế mô hình thiết bị phục vụ điều trị lâm sảng Bước dau tổ chức nghiên cứu điều trị lâm sang suy thận độ I và độ II bằng laser bán dẫn công suất thấp 1.2 Mục tiêu lâu dài Tổ chức nghiên cứu điều trị lâm sảng với số lượng bệnh nhân suy thận độ II và II đủ lớn bang laser bán dẫn công suất thấp.
Trên cơ sở ấy, đánh giá toan diện về phương pháp điều trị mới này.3 Nhiệm vụ chính của đề tài luận văn Dé hoàn thành tốt mục tiêu của dé tài, cần phải thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây: a)Tổng quan các van đề chính liên quan trực tiếp đến dé tai, bao gồm: - Những vẫn đề cơ bản về sinh lý thận. - Các phương pháp điều trị suy thận. - Sử dụng laser công suất thấp trong điều trị suy thận. b) Mô phỏng sự lan truyền chùm tia laser bán dẫn công suất thấp ở các bước sóng và công suất khác nhau từ bề mặt da vùng lưng đến thận bang phương pháp Monte — Carlo.
Thị Điều Luan Văn Thạc Sĩ c) Xây dựng co sở lý luận cho phương pháp điều trị suy thận bằng laser ban dẫn công suất thấp. d) Kết quả điều trị suy thận bang laser bán dẫn công suất thấp. - Mô hình, thiết bị điều suy thận băng laser bán dẫn công suất thấp. - Kết quả điều trị suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp.
Thị Điều Luan Văn Thạc Sĩ 10 Chương II: TONG QUAN CÁC VAN DE CHÍNH LIEN QUAN TRUC TIẾP DEN DE TAL.1 Sinh ly than [1] Thận là co quan chan có vai trò quan trọng trong việc duy tri cân bằng nước, điện giải trong cơ thé va đào thải một số chất độc ra ngoài qua sự hình thành và bài tiết nước tiểu. Do đó, thận được xem như một tuyến ngoại tiết. Tuy nhiên thận còn có vai trò như một tuyến nội tiết có ảnh hưởng đến sự điều chỉnh huyết áp và tạo hông cau.1 Hình thé ngoài [1] Thận hình hạt đậu hay hình bầu dục, màu nâu đỏ, bề mặt trơn lắng nhờ được bọc trong một bao xơ mà bình thường có thé bóc ra dé dàng. Mỗi thận gồm: - Hai mặt: mặt trước lỗi, mặt sau phăng.
- Hai bờ: bờ ngoai cong lỗi, bờ trong ở giữa lõm sâu có núm (rồn) thận. - Hai đầu là hai cực: cực trên và cực dưới thận. Kích thước vi trí và can nang |2| Mỗi quả thận dài khoảng 10-12 cm, rộng 5-7 cm và dày 3-4 cm, nặng 100-120 gram. Hai qua thận năm sát phía lung của thành khoang bung, hai bên cột sống, phía trước cơ that lung, trong khoảng từ đốt sống ngực XII đến thắt lưng I-II.
Đầu trên thận gần nhau, cách đường giữa 3 - 4 em. Đầu dưới 2 thận xa nhau. cách đường giữa 5 - 6 cm. Quả thận phải thường nhỏ hon va năm thấp hon thận trái độ một đốt sống.
Thận được giữ chắc trong bụng nhờ hệ thống cân vùng thận. Lớp cân này làm thành hai lá bọc lay thận. Các sợi từ mang liên kết chui qua lớp mỡ gắn chặt vào cân. Hình thé trong và cau tao 2.
Đại thể [1] Thận được bọc trong một bao sợi, khi bổ đôi thận thay có 2 phan: - Ở giữa là xoang thận. - Bao quanh xoang thận là khối nhu mô thận hình bán nguyệt. Thị Điều Luan Văn Thạc Sĩ 11 a) Xoang than Xoang than thông ra ngoài ở rốn than, thành xoang có nhiều chỗ lỗi lõm. Chỗ lỗi hình nón gọi là nhú thận.
Nhu thận cao khoảng 4 - 10 mm. Đầu nhú có nhiều 16 của các ống sinh niệu đồ nước tiểu vào bề thận. Chỗ lõm úp vào các nhú thận gọi là các đài nhỏ. Các đài nhỏ, hợp lại thành 2 đài lớn.
Các đài lớn hợp lại thành bé thận. Bề thận thông với niệu quản. b) Hệ thong đài - bề thận Hình thái, cách sắp xếp hệ thống đài bể thận thay đổi theo mỗi cá thể. Thận có 14 - 15 đài nhỏ sắp xếp từ 3 - 6 (điển hình là 4) nhóm đồ chủ yếu vào 2 đài lớn trên và dưới, đôi khi vào cả phần giữa bé thân.
c) Nhu mo thận Nhu mô thận gồm có 2 vùng: vùng trung tâm (vùng tủy thận) vả vùng ngoại biên (vùng vỏ thận). + Tuy thận: màu đỏ sam, được cau tạo gồm nhiều khối hình nón gọi là tháp thận hay tháp Malpighi. Đáy tháp quay về phía bao thận, đỉnh hướng về phía xoang thận tạo nên nhú thận. Tháp thận thường nhiều hơn nhú thận, ở phần giữa thận 2 - 3 tháp chung nhau ] nhú than, còn ở 2 cực thận có khi 6 - 7 tháp chung nhau | nhú thận.
Các tháp sắp xếp thành 2 hàng dọc theo 2 mặt trước và sau thận. Mỗi thận thường có từ 8 - 12 tháp Malpighi. + Vỏ thận là vùng có màu vàng đỏ nhạt. Vỏ thận gồm có: - Cột thận là phan nhu mô xen giữa các tháp thận gọi là cột Bertin.
- Tiểu thùy vỏ là phần nhu mô từ đáy tháp thận tới bao sợi. Tiểu thùy vỏ lại được chia làm 2 phan: Phan tia gồm các khối hình tháp nhỏ (tháp Ferrein), có đáy nam trên đáy tháp thận đỉnh hướng ra bao thận. Mỗi tháp Malpighi chứa từ 300 - 500 tháp Ferrein và phần lượn hay mê đạo thận là phần nhu mô xen giữa phan tia. Thị Điều Luan Văn Thạc Sĩ 12 Động mạch thuỷ M6 trong xoang than Nhu của tháp than (của Bertin) NI để.
xé if Niéu quan Động mach thuy Hinh 2.1: Than phai cat doc 2.2 Vi thé [2], [3] Nhu mô thận được cau tao chủ yếu bởi những don vi chức năng gọi là nephron. Đơn vị thận là câu trúc thực hiện chức năng lọc máu, tạo nước tiểu dé thải ra ngoài. Mỗi đơn vị thận có hai phan: a) Cau thận (tiêu cầu Malpighi) Cầu thận là nơi khởi đầu của nephron, nằm ở vùng vỏ thận. Cầu thận có chức năng lọc huyết tương để tạo thành dịch lọc cầu thận.
Mỗi cau thận cau tạo bởi 2 thành phan: tiêu cầu thận và bao Bowman. - Tiểu cầu thận: là một mạng lưới trên 50 nhánh mao mạch song song xuất phát từ tiểu động mạch đến, các mao mạch này nối thông với nhau và được bọc trong bao Bowman. Sau đó, các mao mạch nảy tập trung lại thành tiểu động mạch đi có đường kính hơi nhỏ hơn tiêu động mạch đến và đi ra khỏi cầu thận. Thị Điều Luan Văn Thạc Sĩ 13 - Bao Bowman:là một khoang rỗng chứa dich loc cầu thận và bao bọc tiêu cầu thận.
Cau tạo gồm có 2 lá: Lá thành tiếp nối với ống lượn gần của ống thận và lá tạng gồm những tế bao có chân (podocyte) áp sát với các mao mạch trong tiểu cầu thận. Những tế bào có chân này hợp cùng với màng đáy và tế bào nội mô mao mạch cầu thận tạo thành màng lọc cầu thận. Qua mang này, huyết tương từ trong máu qua mao mạch sẽ được lọc vào bao Bowman tạo nên dịch lọc cầu thận. + Lớp tế bào nội mô của mao mạch cau thận có hàng ngàn lỗ nhỏ gọi là các “cửa số” Các lỗ nhỏ có kích thước 160 A”.
+ Màng đáy là một mạng lưới các sợi collagen và proteoglycan đan chéo nhau tạo thành, giữa các sợi có các khe nhỏ với kích thước khoảng 110 A’. + Tế bào biểu mô thành bao Bowman là những tế bào biéu mô rat to, hình thé không đều đặn, có nhiều tua bao tương dài và lớn năm song song với mang đáy. Từ những tua bào tương này phát sinh nhiều tua nhỏ thắng góc và tận cùng trên màng đáy với những khoảng cách đều nhau. Những tua nhỏ này tạo ra những khe hở với kích thước khoảng 70 A°.
Tê bảo nội mô cua mao mach Mang day $ bảo biểu mô cua bọc Bowman Hình 2.2: Cấu tạo màng lọc cầu thận Thị Điều Luan Văn Thạc Sĩ 14 b) Ông thận Tiếp nối với câu thận, ống thận có chức năng tái hấp thu và bài tiết một số chất đề biến dịch lọc cau thận thành nước tiểu. Ong thận gồm có: ống lượn gan, quai Henle, ống lượn xa và ông góp. + Ông lượn gan: Tiếp nỗi với lá thành của bao Bowman. Thành của ông lượn gan được cau tao bởi một lớp tế bào biểu mô cao, hình lập phương, có diềm bàn chải ở phía lòng ống.
Diém ban chải có tác dụng làm tăng diện tích tiếp xúc lên nhiều lần.