CHƯƠNG 1. CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA DA 1. Cấu trúc của da [1] Diện tích bề mặt khoảng 2 m2. Da được chia làm ba lớp riêng biệt dựa vào yếu tố sinh lý, sinh hóa và hình dạng cấu tạo, gồm ba lớp: lớp biểu bì, lớp bì và lớp mỡ dưới da.
Lớp biểu bì (Epidermis): Dày từ 0.8 mm, bao gồm tầng sừng và tầng tế bào sống. Trong đó, tầng sừng gồm các tế bào đã chết, xếp gần nhau, rất dễ bong ra. Tầng tế bào sống bao gồm các tế bào có khả năng phân chia tạo thành tế bào mới, chứa các hạt sắc tố tạo nên màu da, một số tế bào sống phân hóa thành tế bào sinh lông và tế bào sinh móng. Lớp đáy (hay stratum basale): là lớp trong cùng của biểu bì nơi các tế bào keratinocyte được sản sinh.
Lớp tế bào gai (hay Stratum spinosum): các tế bào keratinocytes sản sinh chất sừng (các sợi protein) và trở nên có hình con suốt. Lớp hạt (hay stratum granulosum): Quá trình sừng hóa bắt đầu - các tế bào sản sinh ra các hạt nhỏ và các hạt này di chuyển lên trên, biến đổi thành chất sừng và các lipid biểu bì. Lớp bóng (hay stratum lucidium): Các tế bào bị ép nhẹ, trở nên bằng phẳng và không thể phân biệt được. Lớp sừng (hay stratum corneum): Là lớp ngoài cùng của biểu bì, trung bình có khoảng 20 lớp da và các tế bào chết đã được dát mỏng, phụ thuộc vào vùng da của cơ thể.
Những tế bào chết này bong ra thường xuyên trong quá trình tróc vảy. Lớp sừng là nơi cư trú của các tuyến mồ hôi và các tuyến bã nhờn. Lớp trung bì (Dermis): Dày từ 0.7 – 7 mm, lớp bì được cấu tạo từ các sợi mô liên kết bền chặt, gồm các thụ quan, tuyến nhờn, tuyến mồ hôi, lông và bao lông, cơ co chân lông, mạch máo, dây thần kinh. Trong đó, tuyến nhờn có nhiệm vụ chính là tiết chất nhờn, tạo thành một lớp chất nhờn bao phủ bề mặt da, giúp da mềm mịn, không bị thấm nước và hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn từ môi trường bên ngoài.
Tuyến mồ hôi có kiểu dạng chùm dưới da (nhiều nhất ở bàn tay, bàn chân, nách, hang, trán) có từ 2 2 đến 3 triệu tuyến. Nhiệm vụ là tiết mồ hôi (là các chất thải bã được lọc từ máu ra), giúp điều hòa thân nhiệt cơ thể, làm nhiệt độ cơ thể giảm xuống nhiệt độ bình thường khi quá nóng. Muối Lysozym có tính kháng khuẩn cao. Có 2 loại tuyến mồ hôi là tuyến mồ hôi toàn vẹn và tuyến mồ hôi bán hủy.
Phần nước của màng này, như là các axit bảo vệ bao gồm: Axit lactic và một số các amino axit từ mồ hôi Các axit tự do từ dầu Các amino axit, axit cacboxilic pyrrolidine và các nhân tố tạo độ ẩm tự nhiên khác - là nhân tố của quá trình sừng hóa. Chức năng của da [1] Da rất quan trọng đối với sức khỏe và tinh thần của chúng ta. Một làn da khỏe hoạt động như một rào cản giữa thế giới bên ngoài và bên trong cơ thể và là sự bảo vệ cơ thể đầu tiên và tốt nhất. Các chức năng của da chủ yếu bao gồm bảo vệ, điều hòa nhiệt độ, bài tiết, dự trữ chuyển hóa, tạo keratin và melanin, cảm giác, miễn dịch.
Da cũng đóng một vai trò quan trọng về tâm lý. Là chỉ số dễ thấy nhất của sức khỏe, tình trạng da của chúng ta ảnh hưởng đến cách chúng ta cảm thấy về bản thân mình và cách người khác cảm nhận chúng ta ra sao. Khi làn da khỏe mạnh và không có bất kì vấn đề gì, nó có thể làm mọi chuyện tốt hơn và chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái và tự tin hơn. Da là một cơ quan của hệ bài tiết, có nhiệm vụ bao bọc cơ thể, che chở cơ thể khỏi sự tác động, sự ảnh hưởng không có lợi từ môi trường bên ngoài.
Ngoài ra chức năng chính của da còn để điều hòa, cảm nhận nhiệt độ, tổng hợp vitamin B và D, da được coi là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể. CÁC VẤN ĐỀ VỀ DA Da là bộ phận bao bọc bên ngoài cơ thể, da là nơi trực tiếp tiếp xúc với các tác động từ môi trường như khói bụi, ánh nắng mặt trời, vi sinh vật, các tác nhân lý hóa khác. Chính vì vậy, da rất dễ bị tổn thương như khô da, nám, tàn nhang, lão hóa… Trong đó, mụn trứng cá và nhiễm khuẩn là vấn đề rất thường xuyên gặp ở da. Mụn trứng cá hình thành dưới tác động lẫn nhau của nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu là do tăng sản xuất chất bã, sừng hóa lỗ nang lông và sự có mặt của vi khuẩn Propionibacterium acne [10].acne tự nhiên đã có trên da của con người, 3 sâu trong nang lông; nó không thực sự là nguyên nhân gây mụn trứng cá nhưng góp phần vào quá trình hình thành mụn.
Nó tích lũy và phóng thích những thành phần trung gian dẫn đến hình thành mụn mủ, làm trầm trọng hơn tình trạng mụn. Những cách vi khuẩn xâm nhập vào da có thể qua 3 cách khác nhau như sau: xâm nhập trực tiếp từ bên ngoài thông qua vết thương, viêm nhiễm toàn thân, lan rộng trên da thông qua đường máu và nhiễm từ độc tố. Có rất nhiều loại vi khuẩn tồn tại và gây tổn thương da. Trong đó, chủ yếu là các khuẩn cầu gram-dương là nguyên nhân dẫn đến phần lớn tình trạng nhiễm khuẩn ở da và thông thường một loại vi khuẩn có thể gây ra nhiều bệnh khác nhau, tùy theo nó sinh sống ở lớp nào của da.
Các loại nhiễm khuẩn do vi khuẩn gram âm gây ra ít phổ biến hơn. Có 6 loại vi khuẩn bao gồm vi khuẩn gram dương và vi khuẩn gram âm đã và đang được dùng để đánh giá khả năng kháng khuẩn của các sản phẩm chăm sóc cá nhân có những đặc điểm như sau: Enterococus faecalis là loại vi khuẩn có hình cầu và bắt màu gram dương, là vi khuẩn sống trong hệ vi sinh bình thường của người, chúng là một nguyên nhân gây các nhiễm trùng cơ hội đặc biệt đối với người cao tuổi, người suy giảm hệ miễn dịch, … Staphylococcus aureus (Tụ cầu vàng) là loại vi khuẩn gram dương kỵ khí, có thể gây ra rất nhiều bệnh nhiễm trùng trong cơ thể. Đây là chủng vi khuẩn thường gặp trên da người và trong điều kiện bình thường chúng không gây ra bệnh, nếu chúng xâm nhập vào cơ thể thông qua các vết thương trên da hay qua đường hô hấp, chúng có thể gây ra nhiễm trùng rất nghiêm trọng.coli) là trực khuẩn gram âm, hình que ngắn, bình thường sống trong đại tràng của người và động vật và không gây ra bệnh. Tuy nghiên trong điều kiện sinh lý cơ thể thay đổi, stress, loạn khuẩn xảy ra, … thì một số dòng độc có thể gây bệnh cho người và một số động vật.
Pseudomonas aeruginosa (Trực khuẩn mủ xanh) là trực khuẩn gram âm, là một trong những vi khuẩn gây bệnh cho người và động vật, thường được tìm thấy trong đất, nước hoặc trên cơ thể con người và động vật. Chúng là mầm bệnh cơ hội gây nhiễm trùng tấn công các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch tại các bệnh 4 viện, gây nhiễm trùng hô hấp, đường tiết niệu, các vết bỏng, vết thương và nhiễm trùng huyết. Methicillin-resistant Staphylococcus aureus (MRSA) (Tụ cầu vàng Methicillin) là loại vi khuẩn gram dương, loại vi khuẩn này gây ra nhiễm trùng “staph” không đáp ứng điều trị với kháng sinh thông thường. Chúng thường gây ra nhiễm trùng phần nhiều trên da như loét, mụn mủ hoặc nhọt, nhiễm trùng có thể đi vào nơi phẫu thuật, trong máu hoặc gây ra viêm phổi, nếu nhiễm trùng nặng có thể gây mệt mỏi, buồn nôn, đau thắt ngực hoặc nhịp tim.
Salmonella typhi (Trực khuẩn thương hàn) là trực khuẩn gram âm, là nguyên nhân chính gây ra bệnh thương hàn, và một số bệnh khác như nhiễm trùng giới hạn ở ống tiêu hóa, nhiễm trùng huyết, phổi, … 1. XỬ LÝ VÀ ĐIỀU TRỊ DA BỊ TỔN THƯƠNG Theo quy luật, khi có vấn đề xảy ra thì đều có hướng giải quyết để ngăn ngừa những tổn thương hiện tại và phòng ngừa cho tương lai. Để điều trị những tổn thương về da, từ phương pháp dân gian, phương pháp truyền thống đến sự phát triển của khoa học ngày nay đều đã được nghiên cứu. Nhìn chung, có 3 cách để điều trị da bị tổn thương do vi khuẩn như sau: Dùng kháng sinh, kháng khuẩn: là phương pháp điều trị thường áp dụng đối với da nhiễm khuẩn.
Các kháng sinh erythromycin, mupirocin, clindamycin. [9] dùng kháng sinh để điều trị khi gặp tình trạng mụn trứng cá viêm nhiễm nặng. Có thể sử dụng tetracyline (thường dùng hơn), doxycyline. Ngoài ra còn một số loại kháng sinh được kê để điều trị mụn như erythromycin, minocycline, lime cycline, dùng kết hợp trimethoprim, sulfamethoxazole và trimethoprim.
Sử dụng kháng sinh là phương pháp điều trị thường áp dụng đối với da nhiễm khuẩn. Ngoài phương pháp sử dụng kháng sinh để điều trị mụn trứng cá, người ta còn dùng thêm các hoạt chất kháng khuẩn tại chỗ, bôi ngoài da như retinoid, benzoyl peroxide, dùng kết hợp với các loại kháng sinh tại chỗ khác, hoặc với salicylic acid và azelaic acid. Hiện tại, xu hướng ngành mỹ phẩm chăm sóc cá nhân dùng những loại tinh dầu, dầu nền và chiết xuất từ tự nhiên để điều trị như tinh dầu Tea Trea, Lavender, dầu Neem. Ưu điểm nổi bậc nhất là tính an toàn cho sức khỏe, khả năng tương thích với 5 nhiều loại da và có chỉ số an toàn cho da rất cao; không có tác dụng phụ và không gây kích ứng da.
XU HƯỚNG DÙNG HOẠT CHẤT THIÊN NHIÊN CHĂM SÓC DA 1. Các hoạt chất thiên nhiên thường sử dụng Hai loại hợp chất có nguồn gốc tự nhiên được sử dụng nhiều nhất trong các dòng sản phẩm hiện nay là tinh dầu và các chiết xuất. Tinh dầu là một hỗn hợp phức tạp của nhiều chất có phân tử lượng thấp được chiết tách từ cây cỏ bằng phương pháp chưng cất với nước và nhiều loại dung môi hữu cơ. Terpenoids và phenylpropanoids là những thành phần chủ yếu hình thành nên mùi đặc trưng và những hoạt tính sinh học của tinh dầu.
Đặc biệt là tinh dầu đã được chứng minh là có khoảng ức chế khá rộng đối với các vi khuẩn gây bệnh gram-dương, gram- âm. Hoạt tính kháng khuẩn sẽ khác nhau đối với mỗi loại tinh dầu khác nhau cũng như đối với từng loại vi khuẩn khác nhau.