Chương 1. Tổng quan về đất ngập nước và ứng dụng viễn thám trong xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ Chương 2. Đặc điểm các yếu tố hình thành và ảnh hưởng tới đất ngập nước thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Chương 3. Ứng dụng viễn thám và GIS xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ về đặc điểm và biến đổi một số yếu tố địa lý phục vụ đề xuất định hướng sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
8 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN ĐẤT NGẬP NƢỚC VÀ ỨNG DỤNG VIỄN THÁM TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU BẢN ĐỒ 1. Tổng quan về đất ngập nƣớc 1. Định nghĩa đất ngập nước Hiện nay, trên thế giới, có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐNN, tùy theo mỗi quốc gia và mục đích quản lý, sử dụng ĐNN. Định nghĩa về ĐNN ghi tại Điều 1 của Công ước Ramsar (năm 1971), được nhiều người sử dụng trong các hoạt động liên quan đến ĐNN: “ĐNN được coi là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kì, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m”[4].
Có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐNN nhưng nhìn chung đều thống nhất ĐNN như đới chuyển tiếp sinh thái (Ecotone), những nơi mà sự ngập nước của đất dẫn đến sự phát triển của một hệ thực vật đặc trưng, hay khu vực chuyển tiếp giữa môi trường ngập nước và môi trường trên cạn. Do đó, ĐNN có đặc tính của cả hai loại môi trường này mà thực ra rất khó có thể phân loại một cách rõ ràng. Việt Nam tham gia Công ước Ramsar từ năm 1989, cho đến nay định nghĩa về ĐNN của Công ước Ramsar (năm 1971) đang được sử dụng như là định nghĩa chính thống về ĐNN ở Việt Nam. Trong các văn bản pháp lí do Cục bảo vệ Môi trường ban hành đều sử dụng định nghĩa này làm cơ sở cho các hoạt động điều tra, nghiên cứu quản lí ĐNN của Việt Nam[2].
Vai trò của đất ngập nước Vai trò của ĐNN đối với hệ sinh thái Đất ngập nước còn có vai trò quan trọng trong thiên nhiên và môi trường như Lọc nước thải: một vùng đất ngập nước có diện tích khoảng vài chục hectar sẽ có khả năng lọc và xử lý nước thải tương đương với một trạm xử lý nước, ước 9 z tính khoảng 70%N- NH4, 99% nitrir và N – NO3 và 95% P tổng số hòa tan được loại bỏ khi nước thải đi qua ĐNN. Nạp và ổn định nước ngầm: nước được thấm từ các vùng đất ngập nước xuống các tầng ngập nước trong lòng đất, nước được giữ ở đó và điều tiết thành dòng chảy bề mặt ở vùng ĐNN khác cho con người sử dụng. Hạn chế ảnh hưởng lũ lụt: bằng cách giữ và điều hòa lượng nước mưa như “bồn chứa” tự nhiên, giải phóng nước lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ lụt ở vùng hạ lưu. Điều hòa khí hậu, chống xói mòn, ổn định bờ biển, chắn gió bão.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, ĐNN có thể làm giảm những tác động từ biến đổi khí hậu, mặc dù chúng chỉ chiếm 6-8% diện tích bề mặt Trái đất. Các HST đất ngập nước ven biển: rừng ngập mặn còn có vai trò trong việc mở rộng đất đai, bồi tụ và tạo vùng đất mới. Ví dụ trong 60 năm gần đây, vùng bán đảo Cà Mau bồi thêm được 8300ha, với tốc độ lấn biển khá mạnh: 1930 – 1965 diên tích tăng 3442ha, tốc độ 13,5m/năm; 1965 – 1985 diện tích tăng 1466ha, tốc độ 26,6m/năm; 1985 – 1991 diện tích tăng 1466ha, tốc độ 38,2m/năm. ĐNN còn là nơi trú chân của nhiều loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loại chim nước, trong đó có nhiều loại quý hiếm, có ý nghĩa quốc tế.
Các hệ sinh thái rừng ngập mặn và rừng tràm có nhiều giá trị trong việc cung cấp sản phẩm, duy trì cân bằng sinh thái và bảo tồn thiên nhiên; cung cấp nơi kiếm ăn, khu cư trú cho các loài chim qúi hiếm như : Sếu đầu đỏ, cồng cộc , ô tác , giang sen. Vai trò của ĐNN đối với con người Đất ngập nước là những hệ sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho con người nhiều loại nhiên liệu, thức ăn: Cung cấp 20% nguồn thực phẩm trên toàn cầu: Ngày nay, sản lượng lương thực và thủy sản của toàn đồng bằng đóng góp 1/3 tổng thu nhập quốc dân của cả nước. Hàng năm, đồng bằng sông Cửu Long cung cấp trên 40 % tổng sản lượng lương thực của cả nước và là nơi cư ngụ của trên 17 triệu người. 10 z Nguồn lợi thuỷ hải sản: Các loài sinh vật nước như: cua, cá, tôm; cung cấp dinh dưỡng, tài nguyên thiên nhiên cho con người Trong số 20.000 loài cá trên thế giới, hơn 40% sống trong nước ngọt, hơn 2/3 sản lượng cá có liên quan đến sự lành mạnh của các vùng đất ngập nước).
Các cơ hội giải trí và du lịch: Các vùng đất ngập nước còn có các đặc tính đặc biệt về di sản văn hoá của loài người. Các hệ sinh thái ĐNN có nhiều thuận lợi cho du lịch sinh thái, xây dựng các khu dự trữ sinh quyển, các vườn quốc gia,.Các khu bảo tồn ĐNN như: Tràm Chim (Đồng Tháp), Xuân Thủy (Nam Định), nhiều vùng cảnh quan đẹp như Bích Động và Vân Long (Ninh Bình), cũng như nhiều đầm phá miền Trung,…thu hút nhiều khách du lịch tham quan, giải trí. Giao thông thủy: Hầu hết các kênh rạch, sông, các vùng hồ chứa nước lớn, vùng ngập lụt thường xuyên hay theo mùa,…đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, vận chuyển thủy đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cũng như phát triển kinh tế của các cộng đồng địa phương. Ngoài ra ĐNN còn cung cấp các nguồn năng lượng như than bùn (rừng tràm có khoảng 305 triệu tấn than bùn)và chất thực vật.
Các đặc điểm tự nhiên chủ yếu hình thành đất ngập nước ở Việt Nam Đặc điểm địa mạo: 3/4 diện tích tự nhiên Việt Nam là đồi núi, có hướng nghiêng chung từ Tây sang Đông. Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là những vùng trũng, tạo nên hai vùng ĐNN tiêu biểu cho địa mạo vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long. Đặc điểm khí hậu: thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm khá cao (hơn 20oC/năm), độ ẩm tương đối lớn (hơn 80%/năm), lượng mưa dồi dào (1500mm/năm). Sự khác nhau về chế độ khí hậu giữa các vùng, đặc biệt là chế độ nhiệt - ẩm có ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của từng vùng như thời gian ngập nước, độ sâu ngập nước, chế độ nhiệt của nước, dẫn đến sự khác nhau giữa các loại hình ĐNN.
Đặc điểm thủy văn: hệ thống dòng chảy với một mạng lưới tiêu nước ra biển khá dày. Tổng số các con sông lớn nhỏ ở Việt Nam lên tới 2500, trong đó 11 z những con sông dài trên 10 km là 2360 sông (Phan Nguyên Hồng, 1996). Các dòng sông chảy ra biển đã tạo thành hệ thống cửa sông là một trong những loại hình ĐNN quan trọng của Việt Nam. Thổ nhưỡng: có 15 nhóm đất, trong đó có 7 nhóm đất liên quan đến các đặc trưng của các vùng ĐNN, đó là đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất glây, đất than bùn, đất xám và đất cát.
Do các đặc điểm khác nhau về địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng đã hình thành các đặc trưng về thực vật của các vùng ĐNN với hai dạng điển hình là thực vật vùng ĐNN mặn và thực vật vùng ĐNN ngọt. Ngoài các đặc điểm tự nhiên trên, các yếu tố nhân sinh như: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, sản xuất muối, công nghiệp và đô thị hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một số loại ĐNN nhân tạo. Phân bố đất ngập nước ở Việt Nam ĐNN ở Việt Nam chủ yếu phân bố ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, các hệ sinh thái đầm phá, các bãi bùn, các vùng cửa sông và rừng ngập mặn phân bố dọc theo bờ biển kéo dài từ Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh) đến Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang) [4]. Các vùng ĐNN nước ngọt ở Việt Nam phân bố rộng khắp các vùng trong cả nước, có mặt ở cả ba miền và các vùng sinh thái.
ĐNN vùng đồng bằng châu thổ: Châu thổ sông Hồng (1,29 triệu ha); châu thổ sông Cửu Long (3,9 triệu ha), trong đó các vùng Đồng Tháp Mười, Rừng Tràm U Minh (U Minh Hạ, U Minh Thượng). Vùng Tứ Giác Long Xuyên, nhiều vùng đồng cỏ và đầm lầy ngập nước (không kể rừng tràm). ĐNN ven biển phân bố rộng khắp vùng bờ biển Việt Nam. Chiều dài bờ biển 3650km, diện tích các huyện ven biển 56 000km2 (thuộc 125 huyện và 29 tỉnh).
Diện tích ĐNN ven bờ 1 000 000 ha. Rừng ngập mặn và bãi sình lầy tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ, vùng cửa sông và vùng triều. Các đầm phá cũng tập trung ở vùng bờ biển miền Trung (từ Huế đến Ninh Thuận). Các rạn san hô và hệ rong tảo - cỏ biển phân bố nhiều ở vùng bờ biển Nam Trung Bộ.
12 z Như vậy, có thể thấy rằng, ở Việt Nam, có 5 vùng ĐNN quan trọng, đó là: ĐNN vùng cửa sông Đồng bằng sông Hồng; ĐNN các đầm phá ở miền Trung; ĐNN châu thổ sông Cửu Long; ĐNN các hồ và một số kiểu ĐNN khác (rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển). Các lợi ích của đất ngập nước 1. Về kinh tế ĐNN góp phần quan trọng cho sự phát triển của các ngành nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, năng lượng, giao thông thủy. Các dòng chảy thường xuyên tạo các vùng châu thổ rộng lớn, phì nhiêu (là vùng sản xuất nông nghiệp trù phú), có khu hệ cá phong phú với sản lượng cao, là nguồn lợi cung cấp cho nhiều cộng đồng dân cư sống xung quanh.
Giai đoạn sau năm 1989, các vùng ĐNN góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu 1 triệu tấn gạo/năm (1976-1988) đã trở thành nước không chỉ cung cấp đủ gạo ăn mà còn xuất khẩu, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thứ 2 thế giới. Kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản liên tục tăng, thúc đẩy sự phát triển của một số ngành như công nghiệp chế biến thủy hải sản. Nổi bật trong giai đoạn này là sự phát triển mạnh của ngành du lịch dựa trên các giá trị của ĐNN [2].