ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu người dân nghèo ven biển Việt Nam. Rừng ngập mặn làm chậm dòng chảy và phát tán rộng của nước triều, làm giảm mạnh độ cao của sóng triều khi triều cường, bảo vệ đê biển, hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm. Rừng ngập mặn mang lại các giá trị và dịch vụ to lớn cho đời sống, là vường ươm và phát triển của nhiều loài thủy hải sản, cung cấp dược liệu, chất đốt, nguyên liệu cho công nghiệp, tạo cảnh quan cho du lịch và tham quan học tập. Với đường bờ biển dài 3260 km tính trên phần lãnh thổ đất liền, Việt Nam là quốc gia có diện tích rừng ngập mặn lớn thứ hai trên thế giới, sau rừng ngập mặn ở cửa sông Amazôn (Nam Mỹ).
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, năm 1943 Việt Nam có trên 400000 ha diện tích rừng ngập mặn. Tuy nhiên trải qua hơn 6 thập niên bị tàn phá do chiến tranh cộng với việc khai thác quá mức, đến năm 2006 Việt Nam còn khoảng trên 155000 ha diện tích rừng ngập mặn và đến năm 2013 diện tích rừng ngập mặn chỉ còn 57716 ha. Quảng Ninh là một trong những khu vực có diện tích rừng ngập mặn khá lớn, được các nhà khoa học đánh giá là đứng thứ nhất, nhì của khu vực phía bắc với hệ động thực vật đa dạng và phong phú như: Mắm biển, đước, vẹt, sú… Tuy nhiên, trong những năm qua, rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh đã có sự suy giảm mạnh cả về số lượng và chất lượng… Theo báo cáo của Sở NN&PTNT, diện tích rừng ngập mặn của tỉnh đã giảm từ 40000 ha năm 1983 xuống còn 22020 ha năm 2002. Từ việc giao đất, giao rừng để nuôi trồng thủy sản một cách ồ ạt, không có quy hoạch và quá trình mở rộng các khu đô thị mới, việc chặt phá cây ngập mặn để lấy củi đốt của người dân ven biển… là những nguyên nhân gây suy giảm đáng kể diện tích rừng ngập mặn.
Rừng ngập mặn tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh là một hệ sinh thái đặc thù, nhạy cảm và có tính đa dạng sinh học cao. Do những cơ chế chính sách sai lầm đã làm cho diện tích rừng ngập mặn của huyện bị suy giảm một cách đáng kể. Phát hiện kịp thời những sai lầm trong chính sách tỉnh đã 1 nỗ lực thực hiện các giải pháp nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển rừng ngập mặn. Ngoài các công cụ bằng pháp luật như luật, chính sách, thông tư, nghị định… thì cần phải có sự hỗ trợ về công nghệ và kĩ thuật.
Một trong những công cụ quản lý môi trường khá phổ biến hiện nay ở trên thế giới đó chính là GIS và viễn thám. Tuy nhiên, ở Việt Nam gần đây mới được quan tâm và phát triển. Nhằm giới thiệu, phổ biến rộng rãi hơn về ứng dụng của GIS và viễn thám trong các lĩnh vực của ngành quản lý môi trường, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý rừng ngập mặn trên địa bàn huyện Tiên Yên em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng GIS và viễn thám đánh giá hiệu quả trồng rừng ngập mặn ven biển huyện Tiên Yên giai đoạn 1994 - 2015”. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Phân bố rừng ngập mặn 1. Trên thế giới Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái rất quan trọng ở ven biển nhiệt đới và á nhiệt đới. Trên thế giới có khoảng 18 triệu ha rừng ngập mặn, ở các nước Đông Nam á chiếm 35 % diện tích (Spalding, 1997). Trong đó, vùng Ấn Độ Dương có hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng nhất thế giới với trên 50 loài cây.
Rừng ngập mặn đã và đang đối mặt với nhiều thách thức như diện tích ngày càng suy giảm mạnh. Trong 5 năm từ 1990 – 1995, đã có 13,7 triệu ha rừng bị mất đi (FAO, 1997). Nguyên nhân là do các yếu tố như thiên nhiên đặc biệt là tác động của con người (Nuôi thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp, đô thị hóa…). Trong nhiều thập niên gần đây, rất nhiều khu vực ven biển này đã chịu sức ép ngày càng tăng của việc phát triển đô thị và công nghiệp.
Hơn 50% diện tích rừng ngập mặn đã bị mất đi vì những nguyên nhân do con người gây ra. Rừng ngập mặn đã bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang nhiều dạng sử dụng đất khác trong đó có nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, phát triển đô thị, công nghiệp… Rừng ngập mặn đã bị giảm từ 20 – 75% ở nhiều nước châu Á đang phát triển và vùng biển Caribe [10]. Dựa vào việc tính toán trên bản đồ vệ tinh ảnh và các số liệu thu thập được gần đây (Spalding, 1997) đã lập bản đồ thống kê tổng diện tích rừng ngập mặn các vùng trên thế giới là 181077 km2.1: Diện tích rừng ngập mặn trên thế giới. Vùng Diện tích RNM (km2) Tỷ lệ (%) Nam và Đông Nam Á 75.5 Đông Phi và Trung Đông 10024 5.5 Tổng cộng 181077 100 Nguồn: Spalding, Blasco, Field,(1997) 3 Qua bảng 2.1 ta thấy diện tích rừng ngập mặn ở mỗi vùng đêu khác nhau.
Trong đó, diện tích ở vùng Nam và Đông Nam Á chiếm diện tích cao nhất sau đó là Châu Mĩ và Tây Phi. Chỉ riêng khu vực Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương cho đến năm 1991 đã có 1.2 triệu ha rừng ngập mặn đã bị chuyển giao thành ao nuôi tôm [14]. Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương người ta ước tính là tốc độ suy giảm rừng ngập mặn là khoảng 1%/năm (Ong,1995). Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là việc khai thác rừng ngập mặn để sử dụng thành ao nuôi tôm [14].
Ở Philippin khoảng 50% trong số 279000 ha rừng ngập mặn bị mất đi trong giai đoạn 1951 – 1988 do phá rừng làm ao nuôi tôm và 95% diện tích ao nuôi tôm tại đây là rừng ngập mặn trước đó (Primavera, 1995) [14]. Ở Thái Lan, trong giai đoạn 1961 – 1993, có đến 54,7% diện tích rừng ngập mặn bị mất đi do nuôi tôm (Menasveta, 1997) [14]. Tương tự Malaysia, 12% diện rừng bị mất trong 10 năm từ 1980 – 1990 [14]. Ở các quốc gia, Madagasca, Mexico, Indonexia, Pakistan, Papua New Guinea và Panama là những nước có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất trong những năm 1980.
Tổng diện tích rừng bị mất ở các nước này là khoảng 1 triệu ha, tương đương diện tích của Jamaica. Nhưng trong những năm 1990, Pakistan và Panama đã thành công trong việc giảm diện tích rừng ngập mặn bị mất. Ngược lại, Madagasca, Việt Nam, Malayxia lại trải qua thời kì phá rừng tăng lên và trở thành một trong những quốc gia có diện tích mất rừng ngập mặn lớn nhất thế giới trong thập niên 1990, và giai đoạn 2000 – 2005. Ở Việt Nam Nước ta có 29 tỉnh và thành phố có rừng và đất ngập mặn ven biển chạy suốt từ Móng Cái đến Hà Tiên.
Trong đó: 4 Vùng ven biển Bắc Bộ có 5 tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Vùng ven biển Trung Bộ có 14 tỉnh từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Vùng ven biển Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ có 10 tỉnh là Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, tp. Hồ Chí Minh, Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.
Nhìn chung, các vùng biển Việt Nam đều mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình hàng năm 22.5oC (Cà Mau) và lượng mưa trung bình 1500 – 2000 mm/năm.2: Phân vùng rừng ngập mặn và đất rừng ngập mặn ven biển Việt Nam. Miền Vùng Tiểu vùng Ghi chú 1. Móng Cái - Cửa Ông I. Cửa Ông - Cửa Lục (Quảng Ninh) A.
Cửa Lục - Đồ Sơn Bắc Bộ 4. Đồ Sơn - Văn Úc Hệ sông Thái Bình II. Văn Úc - Lạch Bắc Bộ Hệ sông Hồng Trường III. Lạch Trường - Ròn Bộ B.
Ròn - Hải Vân Trung Bộ IV. Hải Vân - Vũng Tàu Bộ Ba Nạ 586 km Vũng V. Đông Nam Bộ 9. Vũng Tàu - Soài Rạp Tàu - tp.
Hồ Chí Minh 10. Soài Rạp - Mỹ Đồng bằng sông C. Ven biển Thạnh Cửu Long, Nam Bộ VI. Mỹ Thạnh - Bản Tây Nam bán đảo Nam Bộ Tháp (mũi Cà Mau) Cà Mau, 12.
Bản Tháp - Hà Tiên Tây bán đảo Cà Mau (Mũ Nai) Nguồn: Phan Nguyên Hồng, (1999). 5 + Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (quyết định số 2089/QĐ – BNN – TCLN về việc công bố hiện trang rừng toàn quốc năm 2011 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT công bố ngày 30/08/2012), diện tích rừng ngập mặn tính đến ngày 31/12/2011 là 139046 ha, trong đó diện tích rừng ngập mặn tự nhiên là 60822 ha. + Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (quyết định số 3322/QĐ – BNN – TCLN về việc công bố hiện trang rừng toàn quốc năm 2012 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT công bố ngày 28/07/2014), diện tích rừng ngập mặn tính đến ngày 31/12/2013 là 131520 ha trong đó diện tích rừng trồng giảm còn 58227 ha. - Hiện trạng sử dụng rừng ngập mặn ven biển: + Từ thế kỉ 20, ở Cà Mau hầu hết rừng ngập mặn được xếp vào loại rừng sản xuất và khai thác luân kì (25 – 30 năm).
Sản xuất chính là gỗ xây dựng, than, đước, vẹt, ta nanh và củi. Ngành Lâm nghiệp đã thành lập một số lâm trường, vừa khai thác, vừa trồng rừng. Khi phong trào nuôi tâm xuất khẩu phát triển thì diện tích nuôi tôm ở các lâm trường được mở rộng và các lâm trường cũng đổi tên thành các lâm ngư trường, vừa khai thác, vừa trồng rừng và quản lý các đầm tôm của các hộ dân và cơ quan trong khu vực rừng ngập mặn, theo tiêu chí của Bộ thủy sản là 30% tôm, 70% rừng. Nhưng thực tế, do nguồn lợi từ tôm rất lớn nên rất ít nơi giữ được tỷ lệ này, diện tích nuôi tôm ngày càng được mở rộng.
Hầu hết các hộ dân sống trong rừng ngập mặn là hộ nghèo nên họ đã phá một số rừng ngập mặn để khai thác lâm sản bất hợp pháp bằng cách xây dựng hàng ngàn lò than gia đình. Tình trạng này đã khiến cho diện tích rừng kiệt quệ, diện tích rừng bị thu hẹp nhanh chóng. + Dựa vào ảnh vệ tinh SPOT và cơ sở GIS, Nguyễn Tác An và Phan Minh Thu (2005) đã tính diện tích rừng ngập mặn ở Cà Mau và Trà Vinh vào thời điểm 1965 và 2001 như sau: 6 Bảng 1.3: Diện tích rừng ngập mặn và đầm nuôi tôm ở Cà Mau và Trà Vinh qua các thời điểm.