ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên nƣớc là thành phần chủ yếu của môi trƣờng, là yếu tố đặc biệt quan trọng bảo đảm thực hiện thành công các chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Trong thời gian vừa qua, do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế đất nƣớc đã dẫn đến nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt, đặc biệt là tài nguyên nƣớc mặt. Chất lƣợng nƣớc mặt bị ảnh hƣởng bởi các hoạt động do con ngƣời và quá trình tự nhiên, bao gồm điều kiện thời tiết, tình trạng xói mòn, đặc trƣng về thủy văn, ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu, lƣợng mƣa, các hoạt động công nghiệp, sử dụng đất nông nghiệp, tình trạng xả nƣớc thải và việc khai thác và sử dụng tài nguyên nƣớc. Trong đó, chất lƣợng nƣớc mặt tại ao, hồ, sông, suối thƣờng dễ bị ảnh hƣởng và biến đổi bởi hoạt động của con ngƣời nhƣ các hoạt động sinh hoạt, hoạt động đô thị, hoạt động nông nghiệp và công nghiệp.
Ngoài các yếu tố nhân tạo trên, điều kiện thời tiết nhƣ hạn hán và mƣa cũng ảnh hƣởng đến tính chất của nguồn nƣớc mặt. Trong nghiên cứu của Lee và Bang về tính chất của nƣớc mặt khu vực đô thị Taejon và Chọngju (Hàn Quốc) cho thấy nƣớc mƣa tác động mạnh đến tính chất của nƣớc thải và chất lƣợng nƣớc thủy vực tiếp nhận. Việc đánh giá chất lƣợng nƣớc mặt ở hầu hết các quốc gia đã trở thành một vấn đề bức thiết trong những năm gần đây, đặc biệt là những lo ngại cho rằng nƣớc ngọt sẽ là một nguồn tài nguyên khan hiếm trong tƣơng lai. Với tầm quan trọng vô cùng đặc biệt của nguồn tài nguyên này, việc quản lý, bảo vệ tài nguyên nƣớc và giúp đƣa ra các biện pháp cải thiện chất lƣợng nƣớc của mỗi khu vực càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Suối Nậm La chảy qua thành phố Sơn La từ hƣớng Tây Nam của thành phố qua trung tâm thành phố rồi chảy xuống hang ngầm tại khu vực xã Chiềng Xôm thành phố Sơn La. Ngoài chức năng cơ bản thoát lũ từ thƣợng nguồn còn có vai trò rất quan trọng trong cấp nƣớc, phục vụ các hoạt động kinh tế, xã hội cho toàn khu vực. Tuy nhiên, theo nhiều kết quả quan trắc hàng năm về chất lƣợng nƣớc suối Nậm La trong những năm gần đây nhận thấy đã có dấu hiệu suy 1 giảm về chất lƣợng nƣớc, tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng lên, đe dọa đến khả năng cấp nƣớc phục vụ cho sinh hoạt và phát triển kinh tế, xã hội. Suối Nậm La hình thành từ các dãy núi cao của huyện Thuận Châu và huyện Mai Sơn rồi chạy qua thành phố Sơn La, Suối Nậm La tiếp nhận các nguồn thải chính phát sinh từ các hoạt động công, nông nghiệp và nƣớc thải sinh hoạt hầu hết đều đƣợc thải trực tiếp không qua sử lý.
Ô nhiễm nƣớc thải của thành phố Sơn La làm mất đi vẻ đẹp thơ mộng của sông, ảnh hƣởng đến nguồn cấp nƣớc sinh hoạt, đặc biệt là cƣ dân vùng hạ nguồn. Ô nhiễm đầu nguồn nƣớc ở huyện Thuận Châu, cũng nhƣ du lịch vào thăm hang, đang gây ô nhiễm nƣớc ở Thẳm Tát Tòng, là nguồn cấp nƣớc sinh hoạt cho thành phố Sơn La. Sự tàn phá rừng đầu nguồn thì làm cho lũ lụt ngày càng dữ dội, nhiều lần lũ quét qua đƣờng phố gây thiệt hại về ngƣời và tài sản. Do đó, nghiên cứu “Ứng dụng GIS và thuật toán nội suy không gian xây dựng bản đồ chất lượng nước suối Nậm La chảy qua Thành Phố Sơn La” đƣợc thực hiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với mục đích làm cơ sở khoa học trong việc quản lý nguồn nƣớc mặt, tạo ra một công cụ hỗ trợ cho quản lý môi trƣờng dựa trên hệ thống thông tin địa lý cấp cao, tạo môi trƣờng giao tiếp gần gũi, giúp cho cộng đồng dễ dàng tiếp cận và theo dõi chất lƣợng môi trƣờng, tăng mức độ xã hội hóa công tác bảo vệ môi trƣờng theo chủ trƣơng của nhà nƣớc.
2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nƣớc mặt 1. Khái niệm nước mặt Theo QCVN 08:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lƣợng nƣớc mặt: Nƣớc mặt là nƣớc chảy qua hoặc đọng lại trên mặt đất, sông, suối, kênh, mƣơng, khe, rạch, hồ, ao, đầm. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước mặt Các chỉ tiêu cơ bản trong đánh giá chất lƣợng nƣớc nhƣ màu sác, mùi vị, độ đục, nhiệt độ, DO, COD, BOD, pH, NO2 , NH4+, Coliform, E.Coli, kim loại nặng.
Tuy nhiên tùy thuộc vào mục địch đánh giá chất lƣợng nƣớc, các chỉ tiêu quan trọng sẽ đƣợc lựa chọn sử dụng. Một số chỉ tiêu phổ biến bao gồm: a. Oxi hòa tan Oxi hòa tan hay còn đƣợc gọi tắt là DO (Dissolved Oxygen), là lƣợng dƣỡng khí oxy hòa tan trong nƣớc, rất cần thiết cho sự hô hấp của sinh vật dƣới nƣớc nhƣ cá, tôm, động vật lƣỡng cƣ, côn trùng v. DO thƣờng đƣợc tạo ra do sự hòa tan của oxi trong khí quyển và một phần nhỏ là do sự quang hợp của tảo v.
Khi nồng độ DO trở nên quá thấp sẽ dẫn đến hiện tƣợng khó hô hấp, giảm hoạt động ở các loài động thực vật dƣới nƣớc và có thể gây chết. Nồng độ DO trong tự nhiên khoảng từ 8-10 ppm, phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân hủy hóa chất và một số tắc nhân khác. Nhu cầu ôxy hóa học Nhu cầu ôxy hóa học hay gọi tắt là COD (Chemical Oxygen Demand) là lƣợng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong nƣớc bao gồm cả vô cơ và hữu cơ. Nhƣ vậy, COD là lƣợng oxy cần để oxy hoá toàn bộ các chất hoá học trong nƣớc.
3 COD đƣợc sử dụng rộng rãi để đo gián tiếp khối lƣợng các hợp chất ô nhiễm hữu cơ tìm thấy trong nƣớc bề mặt (ví dụ trong các con sông hay hồ). Do đó, COD là một phép đo hữu ích về chất lƣợng nƣớc. Nhu cầu ôxy sinh học Nhu cầu ôxy sinh hóa hay gọi tắt là: BOD (Biochemical (hay Biological) Oxygen Demand) là lƣợng oxy cần thiết để vi sinh vật ôxy sinh hóa (BOD) đƣợc xác định dựa trên kinh nghiệm phân tích tiến hành tại nhiều phòng thí nghiệm, trong việc tìm sự liên hệ giữa nhu cầu oxy đối với hoạt động sinh học hiếu khí trong nƣớc thải hoặc dòng chảy bị ô nhiễm. BOD đƣợc ứng dụng trong việc đánh giá tính chất nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải công nghiệp.
Đây là chỉ tiêu duy nhất xác định lƣợng chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học và đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nƣớc. Độ pH Giá trị pH là chỉ số đo độ hoạt động (hoạt độ) của các ion hiđrô (H+) trong dung dịch và vì vậy là độ axít hay bazơ của nó. Là một chỉ tiêu quan trọng để kiểm tra chất lƣợng nƣớc cấp và nƣớc thải, pH đƣợc xác định bằng máy đo nhanh pH hoặc phƣơng pháp chuẩn độ. Tổng chất rắn lơ lửng-TSS Là tổng lƣợng vật chất hữu cơ và vô cơ (phù sa, mùn bã hữu cơ, tảo) lơ lửng trong nƣớc.
Hàm lƣợng chất rắn lơ lửng tổng hoặc hàm lƣợng chất rắn có khả năng lắng tụ là chỉ tiêu đánh giá mức độ ô nhiễm của nƣớc. Hàm lượng Fe Nhƣ chúng ta đã biết, kim loại nặng là những nguyên tố vi lƣợng cần thiết cho cơ thể con ngƣời, động vật và thực vật ở nồng độ thấp nhƣng ở nồng độ cao lại rất nguy hiểm. Với hàm lƣợng lớn hơn 0,5 mg/l, nƣớc có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt. do vậy xác định đƣợc hàm lƣợng Fe trong nƣớc là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lƣợng nƣớc mặt tại khu vực nghiên cứu.
Chỉ tiêu hóa học Các chỉ tiêu NO2-, NH4+… dùng để đánh giá các quá trình phân hủy các chất hữu cơ chứa nito trong nƣớc, các hợp chất này thƣờng đƣợc xem là những chất chỉ thị dùng để nhận biết mức độ nhiễm bẩn của nguồn nƣớc. Chỉ tiêu sinh học Trong nƣớc thiên nhiên có nhiều loại vi trùng, siêu vi trùng, rong tảo và các loài thủy vi sinh khác. Tùy theo tính chất, các loại vi sinh trong nƣớc có thể vô hại hoặc có hại. Nhóm có hại bao gồm các loại vi trùng gây bệnh, các loài rong rêu, tảo… Nhóm này cần phải loại bỏ khỏi nƣớc trƣớc khi sử dụng.
Trong chất thải của ngƣời và động vật luôn có loại vi khuẩn E.Coli sinh sống và phát triển. Đó là vi khuẩn đặc trƣng cho mức độ nhiễm trùng của nƣớc ảnh hƣởng đến chất lƣợng nƣớc sinh hoạt. Ứng dụng Gis trong quản lý chất lƣợng nƣớc mặt 1. Khái niệm GIS Hiện nay, những thách thức chính mà chúng ta đang phải đối mặt - bùng nổ dân số, ô nhiễm, phá rừng, thiên tai - đều gắn liền một không gian địa lý.
Vì vậy, một công cụ hỗ trợ việc quản lý và giải quyết các vấn đề trên một cách trực quan, gắn liền với đặc điểm cũng nhƣ vị trí địa lý đƣợc đặt ra. Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã đƣa tin học thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển khoa học. Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một trong những ứng dụng rất có giá trị của công nghệ tin học trong ngành địa lý, điều tra cơ bản, quy hoạch đô thị, cảnh báo môi trƣờng, v. Có rất nhiều định nghĩa về “Hệ thống thông tin địa lý” đã đƣợc đƣa ra, cụ thể nhƣ: Dueker (1979) đã đƣa ra định nghĩa: GIS là một trƣờng hợp đặc biệt của hệ thống thông tin với cơ sở dữ liệu gồm những đối tƣợng, những hoạt động hay sự kiện phân bố trong không gian đƣợc biểu diễn bằng điểm, đƣờng, vùng trong hệ thống máy tính.
GIS xử lý truy vấn dữ liệu theo điểm đƣờng vùng, phục vụ cho những hỏi đáp và phân tích đặc biệt. 5 Theo Aronoff (1993) định nghĩa "GIS là một hệ thống gồm các chức năng: nhập dự liệu, quản lý và lƣu trữ dữ liệu, phân tích dữ liệu, xuất dữ liệu". Theo Viện nghiên cứu khoa học Trái đất Mỹ (Earth Science Research Institute – ESRI), GIS là một hệ thống tích hợp phần cứng, phần mềm và dữ liệu để thu giữ, quản lý, phân tích và hiển thị các dạng thông tin có liên quan đến tính chất địa lý.