ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên nƣớc là thành phần chủ yếu của môi trƣờng, là yếu tố đặc biệt quan trọng bảo đảm thực hiện thành công các chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia [10]. Trong thời gian vừa qua, sự phát triển triển mạnh mẽ của kinh tế đất nƣớc đã dẫn đến nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt, đặc biệt là tài nguyên nƣớc mặt. Theo kết quả nghiên cứu về chất lƣợng nƣớc sông tại khu vực Hà Nội cho thấy tình trạng ô nhiễm các sông trên địa bàn thành phố Hà Nội rất rõ rệt. Phân vùng chất lƣợng nƣớc sông, hồ (phân vùng theo chất lƣợng và mức độ ô nhiễm nguồn nƣớc) đối với một lƣu vực sông hoặc một địa phƣơng là nội dung đặc biệt quan trọng không chỉ trong quản lý môi trƣờng mà còn phục vụ cho quy hoạch sử dụng và bảo vệ môi trƣờng nƣớc.
Kết quả nghiên cứu về phân vùng chất lƣợng nƣớc các con sông nhỏ trong khu vực Hà Nội đã chỉ ra rằng: Các sông nhỏ khu vực tỉnh Hà Tây cũ các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Chƣơng Mỹ, Mỹ Đức, Ứng Hòa. (sông Tích, sông Con, sông Bùi, sông Giỗ.) đã bị ô nhiễm ở mức trung bình, có điểm bị ô nhiễm nặng [8]. Ngày nay, có rất nhiều giải pháp nhằm cải thiện chất lƣợng nƣớc sông đã đƣợc đƣa ra nhƣ: ban hành các văn bản pháp luật kèm theo các chế tài hợp lý (Luật Bảo vệ Môi trƣờng, Luật Tài nguyên nƣớc, hệ thống tiêu chuẩn về nƣớc sông, nƣớc thải…); Tuy nhiên, các biện pháp hiện nay vẫn chƣa đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong đợi. Ô nhiễm nƣớc tại các đoạn sông trên địa bàn vẫn đang là vấn đề nan giải đối với các nhà quản lý và ngày càng nhức nhối đối với cộng đồng – đối tƣợng chịu tác động trực tiếp từ vấn đề này.
Với mục tiêu đặt ra là tiến tới phát triển tổng hợp và bền vững lƣu vực sông, sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các ngành, các địa phƣơng là điều hết sức cần thiết. Thiết nghĩ, việc tạo ra một công cụ hỗ trợ cho quản lý môi trƣờng dựa trên hệ thống thông tin địa lý cấp cao, tạo môi trƣờng giao tiếp gần gũi, giúp cho cộng đồng dễ dàng tiếp cận và theo dõi chất lƣợng môi trƣờng, tăng mức độ xã hội hóa công tác bảo vệ môi trƣờng theo chủ trƣơng của Nhà nƣớc là điều hết sức cần thiết. 1 Sông Tích (Tích Giang) ngoài chức năng cơ bản thoát lũ từ thƣợng nguồn còn có vai trò quan trọng trong cấp nƣớc phục vụ các hoạt động kinh tế - xã hội cho toàn khu vực các huyện ngoại thành Hà Nội. Tuy nhiên trong những năm gần đây tình trạng ô nhiễm của đoạn sông ngày càng tăng, đe dọa nghiêm trọng đến khả năng cấp và thoát nƣớc phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.
Tận dụng các ƣu việt và thế mạnh của công nghệ GIS trongquản lý tổng hợp nhằm bảo vệ môi trƣờng nƣớc mặt sông Tích bền vững “Ứng dụng GIS và thuật toán nội suy không gian đánh giá chất lƣợng nƣớc đoạn sông Tích phục vụ công tác quản lý môi trƣờng huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội” đƣợc tiến hành nghiên cứu. Phƣơng pháp tiếp cận của đề tài là sử dụng phần mềm ArcGIS và các thuật toán nội suy IDW và Kriging tính toán các thông số chất lƣợng nƣớc (TSS, pH, độ đục, DO, COD, BOD, NO2-, PO43-) trên sông Tích. Dựa vào các thông số nội suy đƣợc so sánh với QCVN, phân vùng chất lƣợng nƣớc và đề xuất các giải pháp trong công tác quản lý môi trƣờng nƣớc sông Tích. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Ứng dụng GIS quản lý chất lƣợng nƣớc mặt 1. Khái niệm GIS Hiện nay, những thách thức chính mà chúng ta đang phải đối mặt - bùng nổ dân số, ô nhiễm, phá rừng, thiên tai - đều gắn liền một không gian địa lý. Vì vậy, một công cụ hỗ trợ việc quản lý và giải quyết các vấn đề trên một cách trực quan, gắn liền với đặc điểm cũng nhƣ vị trí địa lý đƣợc đặt ra. Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã đƣa tin học thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển khoa học.
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một trong những ứng dụng rất có giá trị của công nghệ tin học trong ngành địa lý, điều tra cơ bản, quy hoạch đô thị, cảnh báo môi trƣờng, v. Có rất nhiều định nghĩa về “Hệ thống thông tin địa lý” đã đƣợc đƣa ra, cụ thểnhƣ: Dueker (1979) đã đƣa ra định nghĩa: GIS là một trƣờng hợp đặc biệt của hệ thống thông tin với cơ sở dữ liệu gồm những đối tƣợng, những hoạt động hay sự kiện phân bố trong không gian đƣợc biểu diễn bằng điểm, đƣờng, vùng trong hệ thống máy tính. GIS xử lý truy vấn dữ liệu theo điểm đƣờng vùng, phục vụ cho những hỏi đáp và phân tích đặc biệt. Theo Aronoff (1993) định nghĩa "GIS là một hệ thống gồm các chức năng: nhập dự liệu, quản lý và lƣu trữ dữ liệu, phân tích dữ liệu, xuất dữ liệu".
Theo Viện nghiên cứu khoa học Trái đất Mỹ (Earth Science Research Institute – ESRI), GIS là một hệ thống tích hợp phần cứng, phần mềm và dữ liệu để thu giữ, quản lý, phân tích và hiển thị các dạng thông tin có liên quan đến tính chất địa lý. GIS cho phép xem, hiểu, truy vấn, trình diễn và hiển thị dữ liệu bằng nhiều cách để diễn tả các mối quan hệ, các mô hình và các xu hƣớng dƣới dạng bản đồ, biểu đồ, báo cáo, đồ thị. Tóm lại, GIS đƣợc định nghĩa nhƣ là một hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu ra liên quan về mặt địa lý không gian, nhằm trợ giúp việc thu nhận, lƣu trữ, quản lý, xử lý, phân tích và hiện thị các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết các vấn đề tổng hợp 3 thông tin cho ra các mục đích của con ngƣời đặt ra, chẳng hạn nhƣ: Để hỗ trợ việc ra các quyết định của việc quy hoạch và quản lý, sử dụng đất, tài nguyên thiên nhiên, môi trƣờng, giao thông, dễ dàng trong việc quy hoạch phát triển đô thị và những việc lƣu trữ dữ liệu hành chính. Hệ thống thông tin địa lý có thể là một hệ thống thông tin lớn chạy trên máy tính Mini.Nó có thể chứa đựng các chức năng AM/FM (Automated Mapping/ Facilities Mapping, Tự động hóa bản đồ/ Phƣơng tiện dễ dàng thành lập bản đồ).
Các thành phần cơ bản củaGIS Những thành phần chính của GIS là hệ thống máy tính, cơ sở dữ liệu không gian địa lý và ngƣời sử dụng nhƣ hình 1. Các thành phần của GIS. Hệ thống máy tính bao gồm các cấu phần nhƣ: phần cứng, phần mềm và các chuỗi phác họa để hỗ trợ cho việc nhập các cơ sỡ dữ liệu, tiến trính, phân tích, mô hình hóa và phô diễn số liệu không gian. Phần cứng: là phần trông thấy đƣợc của hệ thống, đó có thể là hệ thống dựa trên máy vi tính độc lập hay trạm làm việc đƣợc kết nối.
Phần mềm: hiện nay, có nhiều phần mềm GIS phổ biến và mỗi phần mềm có thể mạnh riêng nhƣ: ArcInfo, MapInfo, ArcView, ArcGis, ENVI,. Nguồn thông tin: các loại bản đồ nhƣ bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất., các dữ liệu điều tra, dữ liệu từ các trạm theo dõi môi trƣờng. Các 4 nguồn thông tin phải cung cấp, các thông tin mà hệ thống yêu cầu nhƣ tọa độ địa lý, quy mô, thuộc tính (đặc điểm), các mối quan hệ. Con ngƣời: là thành phần quan trọng nhất.
Hệ thống cần có sự tác động của những ngƣời làm công tác quản lý để phát huy tác dụng. Những ngƣời làm công tác này cần có khả năng nhận định tính chính xác, phạm vi suy diễn thông tin và kết nối các mảng thông tin trong hệ thống. Các nguồn cơ sở của dữ liệu không gian địa lý là những bản đồ số, không ảnh, ảnh vệ tinh, bản biểu thống kê và các tài liệu liên quan khác. Cơ sở dữ liệu không gian địa lý đƣợc phân loại thành 2 cấu phần là cơ sở dữ liệu về mặt hình học và các thuộc tính.
Dữ liệu hình học gồm 3 yếu tố: điểm, đƣờng thẳng và đa giác trong cả hình thức Vector hoặc Raster mà nó đải diện về mặt hình học của địa hình, kích cỡ, kiểu dáng, vịtrí. Nguyên tắc cơ bản của ngƣời sử dụng là chọn đúng thông tin, thiết lập các chuẩn cần thiết, cập nhập thông tin để phân tích đầu ra của GIS cho mục đích và kế hoạch khả thi. Mô hình dữ liệu củaGIS Dữ liệu GIS bao gồm 2 phần dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính. Dữ liệu khônggian Dữ liệu không gian là dữ liệu về đối tƣợng mà vị trí của nó đƣợc xác định trên bề mặt Trái Đất.
Hệ thống GIS sử dụng hai dạng mô hình dữ liệu địa lý khác nhau - mô hình vector và mô hình raster.Trong mô hình vector, dữ liệu không gian đƣợc thể hiện trên bản đồ dƣới dạng điểm, đƣờng hoặc vùng. Trong mô hình raster, dữ liệu không gian đƣợc thể hiện dƣới dạng mạng lƣới các pixcel.Chồng lớp các mô hình vector và raster. 5 Dữ liệu thuộc tính Dữ liệu thuộc tính mô tả về đặc tính, đặc điểm và các hiện tƣợng xảy ra tại các vị trí địa lý xác định. Một trong các chức năng đặc biệt của công nghệ GIS là khả năng liên kết và xử lý đồng thời giữa dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính.
Thông thƣờng GIS có 4 loại số liệu thuộc tính: - Đặc tính của đối tƣợng: liên kết chặt chẽ với các thông tin không gian có thể thực hiện SQL và phân tích. - Số liệu hiện tƣợng, tham khảo địa lý: miêu tả những thông tin, các hoạt động thuộc vị trí xác định. - Chỉ số địa lý: tên, địa chỉ, khối, phƣơng hƣớng định vị,… liên quan đến các đối tƣợng địa lý. - Quan hệ giữa các đối tƣợng trong không gian, có thể đơn giản hoặc phức tạp (sự liên kết, khoảng tƣơng thích, mối quan hệ đồ hình giữa các đối tƣợng).
Chức năng của GIS GIS có chức năng chính nhƣ quản lý, lƣu trữ, tìm kiếm, thể hiện, trao đổi và xử lý dữ liệu không gian cũng nhƣ các dữ liệu thuộc tính. Những module này là các hệ thống con thực hiện các công việc: - Nhập và kiểm tra dữ liệu (Datainput).