ĐẶT VẤN ĐỀ Rác thải – một thách thức lớn không kém gì tình trạng biến đổi khí hậu. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cùng với Ngân hàng Thế giới (WB) ƣớc tính 23% số ca tử vong ở các nƣớc đang phát triển có nguyên do từ các yếu tố môi trƣờng, bao gồm ô nhiễm; và các yếu tố rủi ro môi trƣờng liên quan đến hơn 80 % các bệnh thƣờng gặp. Trong báo cáo “Đánh giá toàn cầu về quản lý rác thải rắn,” WB nhận định khối lƣợng rác thải ngày càng lớn của cƣ dân đô thị đang là một thách trạng biến đổi thức lớn không kém gì tình khí hậu, và chi phí xử lý rác thải sẽ là gánh nặng đối với các quốc gia nghèo khó, đặc biệt là ở châu Phi. Các chuyên gia WB ƣớc tính đến năm 2025, tổng khối lƣợng rác cƣ dân thành thị thải ra sẽ là 2,2 tỷ tấn/năm – tăng 70% so với mức 1,3 tỷ tấn hiện nay, trong khi chi phí xử lý rác thải rắn dự kiến lên tới 375 tỷ USD/năm, so với mức 205 tỷ USD ở thời điểm hiện tại.
Tại Việt Nam,trong những năm gần đây đã và đang đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nƣớc nhằm đƣa đất nƣớc cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp phát triển vào năm 2020. Quá trình phát triển mang lại những lợi ích kinh tế - xã hội to lớn, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập ổn định cho ngƣời dân. Tuy nhiên sự phát triển kinh tế cùng với sự gia tăng dân số không ngừng đang khiến rác thải sinh hoạt tại các thành phố lớn ở Việt Nam tăng nhanh hơn cả các nƣớc khác trên thế giới. Hiện nay, trung bình mỗi ngày Việt Nam phát sinh 12 triệu tấn rác thải sinh hoạt.
Dự kiến đến năm 2020, lƣợng rác thải đô thị phát sinh là 20 triệu tấn/ngày. Phần lớn lƣợng rác phát sinh chủ yếu tại các thành phố lớn nhƣ Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng… Việc quản lý và xử lý rác thải rắn đô thị nƣớc ta đang còn rất lạc hậu, chủ yếu là chôn lấp. Tại thành phố Hà Nội, khối lƣợng rác sinh hoạt tăng trung bình 15% một năm, tổng lƣợng rác thải ra môi 1 trƣờng lên tới 5. Thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có trên 7.000 tấn rác thải sinh hoạt, mỗi năm cần tới 235 tỉ đồng để xử lý.
Nhƣ vậy, về khía cạnh quản lý môi trƣờng có thể nói rác thải là nguồn gốc chủ yếu dẫn tới phá hoại môi trƣờng sống. Nếu con ngƣời không quan tâm thoả đáng tới rác thải hôm nay, thì ngày mai rác thải sẽ loại bỏ chính con ngƣời ra khỏi môi trƣờng. Sóc Sơn là một huyện ngoại thành nằm ở phía bắc thủ đô Hà Nội, có tốc độ phát triển kinh tế khá cao trong thời gian gần đây. Đằng sau lợi ích kinh tế từ những dự án đầu tƣ và quá trình đô thị hóa đem lại, vấn đề rác thải đang là một nỗi lo trong công tác quản lí đất đai và bảo vệ môi trƣờng.
Tuy đã có nhiều cố gắng nhƣng phƣơng thức quản lý của các cơ quan có thẩm quyền vẫn còn nhiều vấn đề cần phải lƣu ý nhƣ cách quản lý không thống nhất, xử lý số liệu chƣa nhanh, công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải… những bất cập này khó tránh khỏi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhƣng cũng là vấn đề đòi hỏi phải giải quyết trong thời gian sắp tới. Để giải quyết những bất cập trên cần nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ hiện đại trong đó có công nghệ thông tin nói chung và công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) nói riêng. Ứng dụng GIS hỗ trợ công tác quản lý RTSH tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội là một đề tài mới, có tính thực tiễn cao, có thể đáp ứng nhu cầu hiện tại và phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Sóc Sơn – đang trong giai đoạn CNH – HĐH. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về hệ thống thông tin địa lý (GIS) 1. Lịch sử hình thành và định nghĩa GIS Geographic Information System – GIS ra đời vào thập kỷ 70 của thế kỷ trƣớc và ngày càng phát triển trên nên tảng của tiến bộ công nghệ máy tính, đồ họa máy tính, phân tích dữ liệu không gian và quản lý dữ liệu. Hệ GIS đầu tiên đƣợc ứng dụng trong công tác quản lý tài nguyên ở Canada với tên gọi là “Canada Geographic Information System” bao gồm các thông tin về nông nghiệp, lâm nghiệp, sử dụng đất và động vật hoang dã. Từ những năm 80 trở lại đây công nghệ GIS đã có sự thay đổi nhảy vọt về vật rác, trở thành một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý và trợ giúp quyết định.
GIS đƣợc ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, do vậy rất khó để đƣa ra đƣợc một định nghĩa chung nhất cho GIS. Đến nay, có 3 định nghĩa đƣợc sử dụng phổ biến: 1. GIS là một hệ thống thông tin đƣợc thiết kế để làm việc với các dữ liệu trong một hệ toạ độ quy chiếu. GIS bao gồm một hệ cơ sở dữ liệu và các phƣơng thức để thao tác với dữ liệu đó.
GIS là một hệ thống nhằm thu thập, lƣu trữ, kiểm tra, tích hợp, thao tác, phân tích và hiển thị dữ liệu đƣợc quy chiếu cụ thể vào trái đất. GIS là một chƣơng trình máy tính hỗ trợ việc thu thập, lƣu trữ, phân tích và hiển thị dữ liệu bản đồ. Thành phần của GIS Hình 1. Thành phần của hệ GIS Một hệ thống GIS đƣợc kết hợp bởi 5 thành phần chính: phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con ngƣời và phƣơng pháp.
Năm thành phần náy phải cân bằng, hoàn chỉnh để GIS có thể hoạt động hiệu quả.[9] Phần cứng: PC, mini Computer, MainFrame … là các thiết bị mạng cần thiết khi triển khai GIS trên môi trƣờng mạng. GIS cũng đòi hỏi các thiết bị ngoại vi đặc biệt cho việc nhập và xuất dữ liệu nhƣ: máy số hoá (digitizer), máy vẽ (plotter), máy quét (scanner)… Phần mềm: Cung cấp các chức năng & các công cụ cần thiết để lƣu giữ, phân tích và hiển thị thông tin địa lý. Các thành phần chính trong phần mềm GIS là: Công cụ nhập & thao tác trên các thông tin địa lý; Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS); Công cụ hỗ trợ hỏi đáp, phân tích & hiển thị địa lý; Giao diện đồ hoạ ngƣời-máy (GUI) để truy cập các công cụ dễ dàng. Dữ liệu: chia dữ liệu trong GIS thành 2 loại: 4 Dữ liệu không gian (spatial) thể hiện trực quan về hình dạng, kích thƣớc vật lý & vị trí địa lý của các đối tƣợng trên bề mặt trái đất.
Dữ liệu phi không gian (non-spatial) là các dữ liệu ở dạng văn bản thể hiện hay mô tả thông tin thuộc tính của đối tƣợng. Con ngƣời: là thành phần quan trọng nhất, là nhân tố thực hiện các thao tác điều hành sự hoạt động của hệ thống GIS. Phƣơng pháp phân tích: Cho phép ngƣời dùng lựa chọn thuật toán phù hợp với mục đích phân tích dữ liệu. Nếu không có phƣơng pháp phân tích thì GIS không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả.
Chức năng của GIS Mục đích chung của hệ thống thông tin địa lý là thực hiện sáu chức năng sau: Nhập dữ liệu: Trƣớc khi dữ liệu địa lý có thể dùng cho GIS, dữ liệu này chuyển sang dạng số thích hợp. Quá trình chuyển dữ liệuh từ bản đồ giấy sang các file dữ liệu dạng số đƣợc gọi là quá trình số hóa. Công nghệ GIS hiện đại có thể thực hiện tự động hoàn toàn quá trình này với công nghệ quét ảnh cho các đối tƣợng lớn; những đối tƣợng nhỏ hơn đòi hỏi một số quá trình số hoá thủ công (dùng bàn số hoá). Những dữ liệu này có thể thu đƣợc từ các nhà cung cấp dữ liệu & đƣợc nhập trực tiếp vào GIS.
Thao tác dữ liệu: Có những trƣờng hợp các dạng dữ liệu đòi hỏi đƣợc chuyển dạng & thao tác theo một số cách để có thể tƣơng thích với một hệ thống nhất định. Trƣớc khi các thông tin này đƣợc kết hợp với nhau, chúng phải đƣợc chuyển về cùng một tỷ lệ (mức chính xác/mức chi tiết). Ðây có thể chỉ là sự chuyển dạng tạm thời cho mục đích hiển thị/cố định cho yêu cầu phân tích. Công nghệ GIS cung cấp nhiều công cụ cho các thao tác trên dữ liệu không gian & cho loại bỏ dữ liệu không cần thiết.
Quản lý dữ liệu: Ðối với những dự án GIS nhỏ: thông tin địa lý đƣợc lƣu dƣới dạng các file đơn giản; khi kích cỡ dữ liệu trở nên lớn hơn, số lƣợng ngƣời dùng cũng nhiều, thì cách tốt nhất là sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) để giúp cho việc lƣu giữ, tổ chức và quản lý thông tin. Có nhiều cấu 5 trúc DBMS khác nhau, nhƣng trong GIS cấu trúc quan hệ tỏ ra hữu hiệu nhất. Trong cấu trúc quan hệ, dữ liệu đƣợc lƣu trữ ở dạng các bảng. Các trƣờng thuộc tính chung trong các bảng khác nhau đƣợc dùng để liên kết các bảng này với nhau.
Hỏi đáp và phân tích: Khi đã có hệ GIS lƣu trữ thông tin địa lý, có thể tiến hành các câu hỏi đơn giản và câu hỏi phân tích. GIS cung cấp cả khả năng hỏi đáp đơn giản “ chỉ và nhấn” và các công cụ phân tích tinh vi để cung cấp kịp thời thông tin cho ngƣời quản lý và phân tích. Các hệ GIS hiện đại có nhiều công cụ phân tích hiệu quả nhƣ: phân tích lân cận; phân tích một lớp; phân tích không gian; phân tích mạng; phân tích bề mặt; phân tích chồng lớp; rút số liệu, phân loại và đo lƣờng; và kết nối (tạo vùng đệm, mạng, lan truyền, hƣớng dòng, chiếu sáng và phép phối cảnh). Hiển thị: Với nhiều thao tác trên dữ liệu địa lý, kết quả cuối cùng đƣợc hiển thị tốt nhất dƣới dạng bản đồ hoặc biểu đồ.
Bản đồ hiển thị còn có thể đƣợc kết hợp với các bản báo cáo, hình ảnh ba chiều, ảnh chụp và những dữ liệu khác. Xuất dữ liệu: Việc chia sẻ kết quả đạt đƣợc là một ƣu điểm và là một trong những tiêu chí chủ yếu khi sử dụng các nguồn tài nguyên trong GIS. Dữ liệu GIS có thể đƣợc xuất ra dƣới dạng khác nhau nhƣ trên giấy, xuất ra thành tập tin ảnh, đƣa vào cá báo cáo, chuyển tải lên internet… 1. Ứng dụng GIS trong quản lý rác thải sinh hoạt 1.