PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hệ thống NHTM đóng vai trò là huyết mạch của nền kinh tế. Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống NHTM gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế. Trong cuộc các mạng công nghệ 4.0 toàn cầu đã và đang có những tác động mạnh mẽ đến mọi mọi mặt của kinh tế-xã hội và lĩnh vực ngân hàng cũng không ngoại lệ.
Cụ thể hơn về lịch sử phát triển công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng, chúng ta không thể không nhắc đến một số dấu mốc đặc biệt mang tính chất thay da đổi thịt ngành ngân hàng. Đầu tiên phải kể đến sự ra đời của máy ATM vào năm 1967, và chiếc máy ATM đầu tiên được đặt tại ngân hàng Barclays tại Luân Đôn. Tiếp theo là sự ra đời của mạng lưới thanh toán Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế (SWIF) vào năm 1973. SWIF được thành lập thông qua sự nhất trí hợp tác giữa các ngân hàng và chính phủ các nước, nhờ đó giai đoạn này hàng loạt các ngân hàng đã đầu tư mạnh vào hệ thống máy tính để ghi nhận và xử lý các giao dịch ngân hàng nhờ đó mà giảm thiểu sai sót cũng như cắt giảm chi phí.
Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh của khoa học công nghệ cũng như mạng Internet, thì lĩnh vực ngân hàng cũng được trang bị ngày càng nhiều công nghệ. Sự ra đời của ngân hàng trực tuyến như là một lời hồi đáp của lĩnh vực ngân hàng trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của mạng Internet. Mô hình ngân hàng trực tuyến đầu tiên xuất hiện tại Mỹ, Anh và Pháp. Giai đoạn đầu thì dịch vụ này chưa thực sự thu hút khách hàng mà sau này mới thật sự trở nên phổ biến bởi sự bùng nổ của mạng Internet và các công ty thương mại điện tử như Amazon hay eBay…Đến những năm 2000, sự phát triển của công nghệ điện thoại thông minh và mạng không dây, một lần nữa đưa công nghệ ngân hàng lên một tầm cao mới.
Không chỉ đáp ứng cho khách hàng các SPDV thông qua ngân hàng trực tuyến mà còn rút ngắn khoảng cách giữa ngân hàng với khách hàng thông qua dịch vụ ngân hàng di động. Không dừng lại ở đó, trước sự bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã tạo ra xu hướng ngân hàng mở, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng. 2 Đặc biệt là sự ra đời ngày càng nhiều các công ty Fintech như một cú hích trước sự phát triển của NHTM. Không chỉ phát triển bùng nổ trên thị trường tài chính ngân hàng thế giới, mà tại Việt Nam sự xuất hiện của Fintech bắt đầu từ những năm 2008, và thực sự phát triển với tốc độ cao từ năm 2015.
Các công ty trong lĩnh vực Fintech cung ứng các dịch vụ tài chính đa dạng như tài chính cá nhân, ví điện tử…là những dịch vụ thông minh và tiện ích đối với người dùng. Vậy đây là cơ hội hay thách thức đối với NHTM tại Việt Nam, hợp tác cùng phát triển hay đối thủ cạnh tranh khốc liệt. Tác giả Hữu Chí (2021) đưa ra nhận định của mình trong bài viết “Ngân hàng và Fintech đối thủ hay đối tác?” rằng việc chuyển đổi số ngân hàng là cần thiết, sự hợp tác giữa NHTM và các công ty Fintech là tất yếu. Trong bài viết “Cơ hội và thách thức phát triển công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam” Nguyễn Vũ Thân (2021) đã chỉ ra xu thế của các NHTM là chọn hợp tác cùng phát triển giữa NHTM và các công ty Fintech.
Đây là mối quan hệ win-win, các công ty Fintech có thể khai thác mạng lưới, dữ liệu khách hàng của ngân hàng. Về phía ngân hàng có thể ứng dụng, cập nhật ngay các công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng cao hơn nhu cầu của khách hàng mà không cần đầu tư quá nhiều vào cơ sở hạ tầng, nhân lực và chi phí cho khoa học công nghệ ban đầu. Việc hợp tác giữa NHTM và các công ty Fintech là xu hướng tất yếu, ứng dụng Fintech vào phát triển SPDV của NHTM là cái bắt tay đôi bên cùng có lợi. Tuy nhiên trước những lợi ích và ảnh hưởng tích cực thì bên cạnh đó cũng có những ảnh hưởng tiêu cực và thách thức nhất định như giảm thị phần, đối diện với những rủi ro công nghệ, bài toán về nâng cao chất lượng CNTT của hệ thống ngân hàng… Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam- Agribank là một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam và luôn đi đầu trong các hoạt động ngân hàng cũng như tích cực đổi mới công nghệ để thích ứng và theo kịp xu thế thị trường.
Chính vì vậy, luận văn sẽ nghiên cứu “Ứng dụng Fintech trong hoạt động phát triển sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông Việt Nam- Agribank” nhằm chỉ ra những thành tựu đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại của Agribank khi ứng dụng Fintech trong hoạt động phát triển sản phẩm dịch vụ. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề còn tồn tại. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Các nghiên cứu nước ngoài Trong một bài báo được gửi cho Hội nghị Tài chính & Tiền tệ Melbourne vào tháng 7 năm 2016, đã cung cấp các số liệu chỉ ra rằng Fintech đã phát triển trên toàn cầu từ những năm 2013 và tăng trưởng mạnh mẽ những năm tiếp theo.
Đầu tư vào Fintech toàn cầu năm 2013 đạt hơn 4 tỷ đô la Mỹ, con số này là 12,2 tỷ đô vào năm 2014 và 20 tỷ đô vào năm 2015. Sau khi tiến hành một cuộc khảo sát dành cho người tiêu dùng hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật số ở Úc, Canada, Hồng Kông, Singapore, Vương Quốc Anh và Mỹ cho kết quả như sau: 15,5% đã sử dụng ít nhất hai dịch vụ Fintech; 53% người dùng điện thoại thông minh ở Mỹ sử dụng dịch vụ ngân hàng di động cho việc kiểm tra biến động số dư và chuyển khoản; 28% thực hiện thanh toán di động cho các mặt hàng tại cửa hàng và chi trả các hóa đơn. Và sau 5 năm, theo báo cáo Fintech toàn cầu của trang findexable.com ngày 29/06/2021 đã chỉ ra sự phát triển và lan rộng của fintech không chỉ ở các quốc gia phát triển mà sẽ còn lan rộng và mạnh mẽ trên thị trường tài chính toàn cầu. Điều này có tác động rất xa và rộng.
Đầu tiên là tiếp cận các dịch vụ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng theo hướng cá nhân hóa, từ đó giúp hàng triệu người trên thế giới phát huy hết tiềm năng của họ. Điều thứ hai đó là tác động của Fintech đến các hoạt động tài chính ngân hàng dễ lan tỏa bởi vì nó giúp cho người sử dụng dịch vụ thực hiện giao dịch một cách nhanh chóng và đơn giản với chi phí thấp. Điểm thứ ba phải nhắc tới đó chính là sự lan tỏa nhanh chóng tạo ra hệ thống mạng lưới các công ty Fintech ở khắp các thành phố và quốc gia, từ đó phát triển thành hệ sinh thái cho Fintech. Khi các công ty hoạt động tốt trên nền tảng khách hàng khồng ngừng tăng trưởng tạo ra sự đóng góp nhất định cho sự phát triển nền kinh tế.
Tất cả những điều này minh chứng cho việc ứng dụng Fintech vào ngành tài chính ngân hàng là cần thiết, mang lại sự thúc đẩy và đổi mới cần thiết cho các dịch vụ tài chính để giúp cho hoạt động tài chính ngân hàng đa dạng và hiện đại hơn. Và các kết quả nghiên cứu chỉ ra bốn nhóm nội dung chính như sau: Fintech đang phát triển mạnh mẽ. Các báo cáo và các nghiên cứu cũng cho thấy rằng Fintech đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu. Cách đây khoảng mười 4 năm, khi các công ty Fintech tư nhân nổi lên thì họ thường bị coi là không liên quan lắm đến ngành tài chính ngân hàng.
Nhưng sau khi trải qua đại dịch thì cả thế giới phải công nhận rằng các công ty cung cấp dịch vụ tài chính kỹ thuật số này chính là nền tảng cho sự hoạt động trơn tru không phải chỉ của thị trường tài chính ngân hàng mà là của cả nền kinh tế. Hệ sinh thái Fintech đã giúp các giao dịch tài chính ngân hàng được thực hiện một cách nhanh chóng, bất kể địa lý. Giúp các công ty tiêu thụ sản phẩm của mình thông qua các sàn thương mại điện tử, cả thế giới chao đảo vì các hoạt động giãn cách, các lệnh phong tỏa và nền kinh tế vận hành trong lúc đại dịch không phủ nhận vai trò to lớn của các công ty Fintech. Theo CB Insight, tháng 4 năm 2020 số lượng các tập đoàn Fintech lớn là 64 và con số này là 108 vào một năm sau đó.
Hiện nay, Fintech đại diện cho 20% tổng giá trị của ngành công nghệ, thay vì 15% so với năm trước đó. Fintech tạo ra sự khác biệt. Nghiên cứu của Findexable chỉ ra rằng, sự sẵn có của các dịch vụ tài chính không nhất thiết tạo ra sự tăng lên về nhu cầu sử dụng các dịch vụ này. Tuy nhiên sự xuất hiện của Fintech như một chất xúc tác, thôi thúc tiến trình hòa nhập.
Theo một khảo sát của Mambu vào năm 2021 cho thấy người tiêu dùng muốn các nhà cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng hướng dẫn họ sử dụng các sản phẩm tài chính một cách tốt nhất. Tuy nhiên điều này không đáp ứng được đối với dịch vụ tài chính ngân hàng truyền thống. Sự xuất hiện của Fintech với sự đơn giản, nhanh chóng, dễ sử dụng đóng vai trò như một người thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính đã hiện thực hóa được điều này. Theo một nghiên cứu xuất bản bởi Mambu trong năm 2021 dựa trên các cuộc phỏng vấn với 2.000 cá nhân, trong đó 56% khách hàng sử dịch vụ ngân hàng được hỏi cho biết rằng họ cảm thấy họ nên có quyền truy cập vào các dịch vụ bổ sung.
Tài chính không dừng lại ở việc mở tài khoản ngân hàng, mà tài chính toàn diện là nhu cầu ở khắp mọi nơi. Do đó việc hợp tác đưa ra các sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng không chỉ là cơ hội kinh doanh đây là nghĩa vụ của fintech cũng như các ngân hàng thương mại. Để làm được điều này thì cần thu hẹp khoảng cách: giữa người đương nhiệm và người đổi mới, giữa các công ty tư nhân và các nhà đầu tư, giữa những người sáng lập và khách hàng của họ. 5 Hợp tác giữa Ngân hàng và Fintech là tất yếu.