PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ kể từ 11/1/2015 khiến thị trường bán lẻ trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài với lợi thế về nguồn vốn, công nghệ, và phương pháp quản trị hiện đại tạo ra thách thức lớn đối với doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Bên cạnh đó, thị trường bán lẻ cũng đang có xu hướng phát triển các kênh bán lẻ hiện đại, bán lẻ trực tuyến, bán lẻ đa kênh tích hợp, cửa hàng tiện ích.
tạo nên diện mạo mới của thị trường bán lẻ và gia tăng áp lực lên các kênh bán lẻ truyền thống. Nhiều nhà bán lẻ nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực bán lẻ hiện đại, điển hình như Aeon (Nhật Bản), Lotte (Hàn Quốc), Central Group (Thái Lan) đã và đang mở rộng hoạt động trên thị trường Việt Nam thông qua các thương vụ mua bán - sáp nhập. Nếu không có những sự thay đổi rõ rệt trong việc nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực, nhiều doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam sẽ sớm bị thất bại ngay trên chính thị trường nội địa. Để vượt qua những thách thức này doanh nghiệp bán lẻ cần tăng cường áp dụng những công cụ quản lý hiện đại giúp nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực.
Trong đó, quản trị nguồn lực doanh nghiệp - ERP là giải pháp công nghệ thông tin và quản trị cho các doanh nghiệp trong tối ưu hóa hiệu quả sử dụng, khai thác các nguồn lực của doanh nghiệp. Trên thế giới, ERP đã được các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh triển khai từ những năm 1990 nhằm quản trị thông tin tổng thể trong doanh nghiệp bao gồm hệ thống kế toán, hàng tồn kho, nhân lực… Mặc dù hệ thống ERP được ra đời nhằm tối ưu hóa hoạt động quản lý các nguồn lực tại các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, tuy nhiên, ngành bán lẻ hiện nay lại được coi là ngành có tốc độ tăng trưởng ứng dụng ERP lớn nhất. Tại các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Nhật Bản. việc ứng dụng ERP tại các doanh nghiệp bán lẻ đã trở nên phổ biến.
Các doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực bán lẻ như Walmart, Amazon đều đã triển khai ERP và coi đây là hệ thống thông tin đóng vai trò quyết định đến thành công của việc vận hành và quản lý hoạt động bán lẻ. Tại Việt Nam, quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP đã được nhắc đến từ những năm 2000, tuy nhiên, việc ứng dụng ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp bán lẻ còn rất hạn chế. Cụ thể, có khoảng 11% doanh 2 nghiệp bán lẻ Việt Nam đã ứng dụng ERP. Chỉ có những doanh nghiệp có quy mô lớn, vốn lớn, số lượng hàng bán nhiều thì mới triển khai áp dụng hệ thống ERP như SaigonCoop, Nguyễn Kim, Trần Anh, Thế giới di động.
Những doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài có lợi thế triển khai ứng dụng ERP từ hỗ trợ của công ty mẹ ở nước ngoài, điều này cũng gây áp lực lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường bán lẻ nội địa, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần có những bước chuyển mình nhanh chóng để tồn tại trên chính thị trường nội địa trong bối cảnh cạnh tranh và đổi mới mô hình tăng trưởng. Để có thể trụ vững và phát triển, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam một mặt cần phải nghiên cứu xu hướng tiêu dùng trong nước nhằm định hướng phát triển cho ngành bán lẻ, mặt khác cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử, áp dụng các phương pháp quản trị hiện đại để có thể tối ưu hóa các nguồn lực doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh trên chính thị trường nội địa. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với các chủ trương và chính sách để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế mà Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: “Mở rộng thị trường nội địa, phát triển mạnh thương mại trong nước”, đồng thời “Chủ động tham gia vào mạng phân phối toàn cầu, phát triển nhanh hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu hàng hoá Việt Nam.” Để làm được điều đó, các doanh nghiệp bán lẻ cần có công cụ mạnh để xây dựng kế hoạch kinh doanh nhanh chóng và tức thời dựa trên các báo cáo theo thời gian thực, kiểm soát khối lượng hàng hóa lớn tại các cửa hàng và kho hàng có vị trí phân tán, quản lý và chăm sóc khách hàng trên nhiều kênh bán lẻ tích hợp.
Việc ứng dụng ERP một mặt đem lại lợi ích to lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ trong việc chủ động kiểm soát và phối kết hợp các nguồn lực, cắt giảm chi phí, cải tiến quy trình kinh doanh. Mặt khác, trên thực tế cho thấy đây là quá trình không dễ dàng với đa số các doanh nghiệp, chỉ một số doanh nghiệp ứng dụng ERP thành công, nhiều doanh nghiệp thất bại hoặc gặp rất nhiều khó khăn và phải kéo dài thời gian triển khai ERP. Hơn nữa, ứng dụng ERP đòi hỏi đầu tư lớn và nhiều yếu tố quan trọng khác như sự quyết tâm của ban lãnh đạo doanh nghiệp, sự sẵn sàng tham gia và chấp nhận của con người sử dụng hệ thống, yêu cầu cải tiến quy trình doanh, 3 và sự chấp nhận của đối tác. Chính vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) của các nhà bán lẻ trên thế giới từ đó rút ra bài học và đề xuất các giải pháp phù hợp cho các nhà bán lẻ Việt Nam là cần thiết và có giá trị thực tiễn.
Do đó, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise resource planning – ERP) của các doanh nghiệp bán lẻ trên thế giới: bài học kinh nghiệm và giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh và đổi mới mô hình tăng trưởng” làm đề tài tiến sỹ của mình. Tình hình nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP), tổng quan nghiên cứu về ERP, quy trình triển khai dự án ERP trong doanh nghiệp, vai trò và tác động của ERP đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các yếu tố đảm bảo thành công (critical success factors - CSFs) của dự án ERP, những xu hướng phát triển ERP. Tiêu biểu trong đó có: Nghiên cứu tổng quan về ứng dụng ERP: Esteves và Pastor (2001), Al- Mashari (2002), Moon (2007), Schlichter (2010) là các nghiên cứu điển hình đưa ra những báo cáo thống kê về các nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về ERP.
Các nghiên cứu này đã tổng hợp và thống kê các chủ đề chính được các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới thảo luận và phân tích về ERP như hoạt động triển khai hệ thống ERP, vận hành hệ thống ERP, vai trò và lợi ích của hệ thống ERP tác động lên hoạt động kinh doanh, các yếu tố đảm bảo thành công (CSFs) của ERP, vai trò của ERP trong chuỗi cung ứng (SCM), phần mềm ERP, các tình huống ứng dụng thành công hoặc thất bại ERP. Những nghiên cứu mang tính chất tổng hợp này là tài liệu có nhiều giá trị tham khảo đối với Nghiên cứu sinh trong việc khái quát hóa tổng quan nghiên cứu, chỉ ra các vấn đề đã được thừa nhận, những xu hướng trong nghiên cứu về ERP qua các giai đoạn (1970 - 1999, 2000 - 2005, 2005 - 2010, 2010 - 2018), và chỉ ra các điểm trống nghiên cứu về ERP. Các nghiên cứu về tác động của việc triển khai ERP tới hoạt động kinh doanh, tới phản ứng của thị trường đối với doanh nghiệp: Nghiên cứu của Hayes và 4 cộng sự (2001) về phản ứng của thị trường khi các công ty công bố triển khai ERP. Nghiên cứu chỉ ra rằng các phản hồi tích cực lại đến hầu hết các công ty nhỏ và hoạt động tốt hơn là các công ty lớn.
Còn thị trường thì lại phản hồi tích cực với các nhà cung cấp ERP lớn, như PeopleSoft và SAP, các công ty này có các phản hồi tích cực hơn hẳn các nhà cung cấp ERP nhỏ khác. Kế thừa nghiên cứu này của Hayes và cộng sự, nghiên cứu của Hunton và cộng sự (2003) phân tích tác động của hệ thống ERP tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và so sánh giữa các công ty có triển khai và không triển khai ERP dựa trên các chỉ số tài chính ROA, ROS, ROI. Kết quả nghiên cứu của Hunton và cộng sự (2003) cũng chỉ ra các tác động tích cực của việc áp dụng ERP tới kết quả hoạt động kinh doanh, và có kết quả nhất quán với công bố trước đó của Hayes và cộng sự (2001). Các nghiên cứu sau này về tác động của ERP tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như Nicolaou và cộng sự (2006), Wieder và cộng sự (2006),.
cũng chỉ ra các kết quả tương tự trong các bối cảnh tại các thị trường khác nhau như tại Hoa Kỳ, Australia, Trung Quốc. Đặc biệt, nghiên cứu của Wieder và cộng sự (2006) có chỉ ra chỉ có các doanh nghiệp ứng dụng cả 2 hệ thống ERP và SCM (quản trị chuỗi cung ứng) thì có kết quả hoạt động cao hơn đáng kể ở cấp độ quy trình kinh doanh (business process level). Một cách tiếp cận khác để đánh giá tác động của việc ứng dụng ERP tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phân tích trong nghiên cứu của Murphy và cộng sự (2002). Nghiên cứu này đánh giá tầm quan trọng của các lợi ích vô hình quan trọng của dự án ERP và giải thích mô hình để có thể đưa các yếu tố này bổ sung vào các kỹ thuật đánh giá truyền thống (sử dụng các công cụ tài chính như ROA, ROI mà Hayes, Hunton và các cộng sự đã làm).
Các lợi ích vô hình (không đo lường được bằng các chỉ tiêu tài chính) được đề cập đến bao gồm: gia tăng sự hài lòng của khách hàng, tăng cường hợp tác giữa các đơn vị trong tổ chức, xây dựng mối liên kết chiến lược, xây dựng sự linh hoạt cho những thay đổi của hệ thống trong hiện tại và tương lai, hỗ trợ thay đổi trong tổ chức, tạo môi trường học tập, trao quyền cho nhân viên, và xây dựng tầm nhìn chung cho doanh nghiệp.