chương 1. Rõ ràng là khi công ty sử dụng thêm nợ sẽ làm tăng mức độ e ngại của các nhà đầu tư có ý định đầu tư vào công ty, tuy nhiên rủi ro tăng đồng nghĩa với việc họ sẽ kì vọng ở một mức lợi nhuận cao hơn. Đây chính là mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận, vậy rủi ro mà các cổ đông phải gánh chịu và lợi nhuận kỳ vọng của họ có quan hệ với nhau như thế nào, câu trả lời sẽ có ở phần 1. Quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro Một khi đã nắm được nguyên tắc của sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận khi công ty sử dụng nợ dài hạn.
Công ty sẽ phải xác định xem chi phí vốn khi đó ra sao, câu trả lời sẽ nằm trong phần 2. Chi phí vốn Phần 3 xem xét những ứng dụng của đòn bẩy tài chính với mục tiêu “ tối đa hoá giá trị tài sản các cổ đông “ như thế nào. Nhiệm vụ tiếp theo đó là nghiên cứu thực trạng sử dụng đòn bẩy tài chính của Công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí. Chương 2 sẽ tập trung vào những vấn đề sau: Nguyên nhân DMC đã chưa sử dụng nợ dài hạn trong những năm qua.
Thực trạng về cơ cấu tài sản và nguồn vốn, thực trạng về chi phí vốn và cơ cấu vốn, tình hình sử dụng nợ của công ty. Ứng dụng đòn bẩy tài chính vào công ty cổ phần dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí Chương này khẳng định sự cần thiết sử dụng nợ trong cơ cấu vốn của DMC, phần này sẽ nghiên cứu tình huống của Công ty Khoan và Dịch vụ khoan ( PVD ), cũng là thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, đã có những bước tiên phong cho ngành Dầu khí Việt Nam trong quá trình cổ phần hoá. Dựa trên những số liệu có được, đánh giá và phân tích tình hình tài chính của công ty, những khả năng, tiềm lực mà công ty còn chưa sử dụng hết. Ứng dụng đòn bẩy tài chính vào Công ty để thấy được hiệu quả khi sử dụng nợ dài hạn.
Đề ra những giải pháp, những kiến nghị, định hướng phát triển cho Công ty. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Xác định cơ cấu vốn mục tiêu rõ ràng là một chiến lược dài hạn cho doanh nghiệp. Vì vậy đề tài “Ứng dụng đòn bẩy tài chính” có tác dụng gợi mở cho doanh nghiệp biết sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn nhờ đó mà gia tăng được giá trị tài sản cho cổ đông.
Vẫn biết cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp trong từng giai đoạn là khác nhau, phạm vi của đề tài không mong tìm được một cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp mà mục đích chính là ứng dụng đòn bẩy tài chính vào doanh nghiệp như một công cụ làm cho cơ cấu vốn của doanh nghiệp đạt hiệu quả hơn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH 1. QUAN HỆ GIỮA RỦI RO VÀ LỢI NHUẬN Xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro là tư tưởng xuyên suốt của bất kỳ một nhà quản trị tài chính nào trước khi đưa ra quyết định của mình. Hơn nữa đối với việc ứng dụng đòn bẩy tài chính vào công ty chính là việc gia tăng mức độ sử dụng nợ dài hạn của công ty trong cơ cấu nguồn vốn, điều này làm gia tăng rủi ro phải gánh chịu cho cả chủ nợ và chủ sở hữu công ty, vì vậy cân nhắc mối quan hệ giữa lợi nhuận là điều luôn phải làm đối với nhà quản trị tài chính.
Lợi nhuận Lợi nhuận là thu nhập từ một khoản đầu tư. Khi đầu tư vào một tài sản nhất định, người ta có thể thu được lợi nhuận từ hai nguồn. Thứ nhất là lợi tức (cổ tức) nhận được bằng tiền mặt do sở hữu tài sản đó, nguồn thứ hai là sự chênh lệch do giá của tài sản tăng, khoản này gọi là lợi vốn. Lợi nhuận = Thu nhập từ tài sản + Lãi ( hoặc lỗ ) về vốn Lợi nhuận được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập và giá trị đầu tư bỏ ra ( hay còn gọi là lợi nhuận tương đối ).1 ) Trong đó: R là lợi nhuận P ,P là giá cổ phiếu tại thời điểm t và (t-1) D là cổ tức Như chúng ta đã biết, lạm phát làm mất giá những đồng tiền mà chúng ta có, nó chỉ ra rằng một đồng lợi nhuận ngày hôm nay đáng giá hơn một đồng lợi nhuận của ngày mai.
Vì vậy, lợi nhuận được chia làm hai loại: - Lợi nhuận danh nghĩa là thu nhập từ một khoản đầu tư mà chưa được điều chỉnh bởi lạm phát. - Lợi nhuận thực tế là thu nhập đã được điều chỉnh do ảnh hưởng của lạm phát. Mối quan hệ giữa lợi nhuận danh nghĩa, lợi nhuận thực tế và lạm phát: (1 + R) = (1 + r)(1 + h) (1.2 ) Suy ra : R = r + h + rh (1.3 ) Trong đó: R là lợi nhuận danh nghĩa. r là lợi nhuận thực tế.
h là tỷ lệ lạm phát. Công thức trên chỉ ra rằng : Lợi nhuận danh nghĩa có ba bộ phận hợp thành. Bộ phận thứ nhất là lợi nhuận thực tế (r), bộ phận thứ hai chính là sự đền bù việc giảm giá trị của khoản tiền đầu tư ban đầu do lạm phát (h), bộ phận cuối cùng là sự đề bù về việc giảm giá trị của doanh lợi do lạm phát (rh). Thành phần thứ ba thường rất nhỏ, vì vậy , trên thực tế khi tính toán người ta thường bỏ đi.
Như vậy, công thức tính doanh lợi danh nghĩa trên thực tế như sau : R=r+h (1. Rủi ro Trong tài chính, rủi ro được định nghĩa là sự sai khác của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận mà nhà đầu tư kỳ vọng. Vì vậy, muốn đo lường được rủi ro trước hết ta phải tính được lợi nhuận kỳ vọng E(R) E(R) = ( 1.5 ) Trong đó : R là lợi nhuận tương ứng với biến cố i P là xác xuất tương ứng với biến cố i n là số biến cố xác xuất có thể xảy ra. Như vậy lợi nhuận kỳ vọng chính là bình quân gia quyền của các lợi nhuận có thể xảy ra với trọng số chính là xác suất xảy ra.
Tiếp đến chúng ta phải đo lường sự sai khác của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng, người ta dùng độ lệch chuẩn ( 1.6 ) Tuy nhiên, đôi khi độ lêch chuẩn cho chúng ta kết luận không chính xác khi so sánh rủi ro của 2 dự án khác nhau về quy mô. Để khắc phục tình trạng này chúng ta dùng chỉ tiêu hệ số biến đổi CV (Coefficient of variation) ( 1.7 ) Để minh hoạ điều này, xem xét 2 dự án đầu tư A và B : Bảng 1. So sánh lợi nhuận của 2 dự án khác quy mô Dự án A Dự án B Lợi nhuận kỳ vọng, E(R) 0,09 0,15 Độ lệch chuẩn, 0,06 0,08 Hệ số biến đổi, CV 0,66 0,53 ( Nguồn : tác giả tự giả định ) Nếu nhìn vào độ lệch chuẩn ta thấy độ lệch chuẩn của dự án B là lớn hơn so với dự án A, như vậy có thể kết luận dự án B là rủi ro hơn dự án A hay không ? Vấn đề là cần so sánh xem quy mô lợi nhuận kỳ vọng của hai dự án này thế nào. Dự án B có độ lệch chuẩn là 8% trong khi dự án A chỉ có 6% nhưng lệch 8% của quy mô lợi nhuận kỳ vọng là 1tỷ đồng sẽ rất nhỏ so với lệch 6% của quy mô lợi nhuận kỳ vọng là 1 triệu đồng.
Trong ví dụ trên, dự án A có CV = 0,66 trong khi dự án B có CV là 0,53. Có thể nói dự án A rủi ro hơn dự án B. Khi phải đối mặt với rủi ro, chẳng hạn như phải chọn lựa giữa việc mua một trái phiếu chính phủ với độ rủi ro xấp xỉ bằng 0 và việc đầu tư vào một cổ phiếu công ty công nghệ, sẽ có 3 nhóm nhà đầu tư tương ứng với 3 quyết định khác nhau: - Nhóm ngại rủi ro, những nhà đầu tư này sẵn sàng chấp nhận số tiền thấp hơn nhưng chắc chắn nhận được còn hơn phải gánh chịu rủi ro do lợi nhuận kỳ vọng cao hơn mang lại. Những nhà đầu tư này sẽ chọn trái phiếu chính phủ.
- Nhóm bàng quan với rủi ro, những nhà đầu tư loại này không cảm thấy sự khác biệt giữa các phương án đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. - Nhóm ưa thích rủi ro, sẵn sàng chấp nhận rủi ro để có được lợi nhuận kỳ vọng cao. Tất nhiên là những người này sẽ chọn đầu tư vào cổ phiếu của công ty công nghệ cao. Lợi nhuận và rủi ro của danh mục đầu tư.
Danh mục đầu tư là một nhóm các tài sản như cổ phiếu và trái phiếu do một người đầu tư nắm giữ. Nói chung, các nhà đầu tư thường đầu tư vào nhiều nơi thể hiện bằng nhiều loại cổ phiếu và nhiều loại trái phiếu khác nhau. Lợi nhuận của danh mục đầu tư. Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là trung bình có trọng số của các lợi nhuận kỳ vọng của từng loại tài sản riêng biệt trong danh mục đầu tư.
Trọng số ở đây chính là tỷ trọng của từng loại tài sản trong danh mục đầu tư. Công thức tính lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư E (R) như sau : ( 1.8 ) Trong đó : W là tỷ trọng của từng tài sản riêng biệt. E (R) là lợi nhuận kỳ vọng của tài sản thứ j. m là tổng số tài sản trong danh mục đầu tư.
Rủi ro của danh mục Rủi ro của danh mục đầu tư được đo bởi độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư. Không giống lợi nhuận, việc xác định độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư rất phức tạp do ảnh hưởng của yếu tố đồng phương sai ( covariance ), tức là mức độ quan hệ rủi ro của các chứng khoán trong danh mục đầu tư. Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư được xác định bởi công thức : ( 1.9 ) Trong đó : là độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư. W ,W là tỷ trọng tài sản i và k trong danh mục.
là đồng phương sai giữa lợi nhuận của tài sản j và k. m là tổng số tài sản trong danh mục. Đồng phương sai lợi nhuận hai chứng khoán là chỉ tiêu đo lường mức độ quan hệ tuyến tính của 2 chứng khoán. Đồng phương sai được xác định bởi công thức : ( 1.