ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Lý do chọn đề tài Đổi mới giáo dục trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu nhằm trang bị cho thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội. Chương trình GDPT 2018 giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chương trình Sinh học góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn; phát triển ở học sinh năng lực nhận thức kiến thức sinh học, năng lực tìm tòi, khám phá thế giới sống và năng lực vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn thông qua hệ thống hóa, củng cố kiến thức, phát triển kỹ năng và giá trị cốt lõi của sinh học. Đổi mới phương pháp dạy học là một giải pháp được xem là then chốt, có tính đột phá, quyết định tới sự thành công của việc đổi mới giáo dục.
Từ năm học 2019- 2020 Bộ GD - ĐT đã đưa ra nhiều giải pháp trong đó nổi bật nhất là chương trình bồi dưỡng và tập huấn giáo viên (ETEP) với 5 Module đã được thực hiện trong đó có 3 Module gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh. Cụ thể Module 2: Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; Mô đun 3: Kiểm tra, đánh giá học sinh theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực; Mô đun 4: Xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Bên cạnh đó các trường đại học hiện nay đã sử dụng bài kiểm tra đánh giá năng lực phục vụ cho công tác tuyển sinh. Bản chất của các bài kiểm tra năng lực thường không đề cao khả năng ghi nhớ mà tập trung đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, đánh giá kiến thức tổng hợp, mức độ hiểu biết của thí sinh về mọi mặt, hạn chế việc học tủ.
Các bộ đề thi đánh giá năng lực được xây dựng theo định hướng đánh giá năng lực cơ bản của thí sinh (sử dụng ngôn ngữ, xử lý số liệu, tư duy logic, giải quyết vấn đề). Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực là nhiệm vụ, trách nhiệm của người giáo viên đối với học sinh, phụ huynh và xã hội. Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Dạy học chủ đề: Ứng dụng di truyền học vào chọn giống - Sinh học 12 theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh. Mục tiêu đề tài - Học sinh được tìm hiểu kiến thức về các nguồn vật liệu chọn giống, quy trình tạo giống bằng phương pháp hiện đại và các thành tựu tạo giống của nông nghiệp Việt Nam và thế giới.
- Thực hiện được dự án, đề tài về các sản phẩm công nghệ tế bào và công nghệ chuyển gen. Làm được tập san các bài viết, tranh ảnh về thành tựu tạo giống hiện nay. - Thu thập được thông tin đánh giá triển vọng về công nghệ gen và công nghệ tế bào trong nền nông nghiệp hiện đại qua đó tìm hiểu được lĩnh vực nghề nghiệp có liên quan. - Góp phần hình thành phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung, đặc biệt là tình yêu thiên nhiên, thái độ tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, bảo vệ giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triên bền vững; Rèn luyện cho học sinh thế giới quan khoa học, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tình yêu lao động và các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Phạm vi nghiên cứu Các bài học trong chương IV: Ứng dụng di truyền học – Sinh học 12 Bài 18: Chọn giống vật nuôi và cây trồng dựa trên nguồn biến dị tổ hợp. Bài 19: Tạo giống bằng phương pháp gây đột biến và công nghệ tế bào. Bài 20: Tạo giống nhờ công nghệ gen. Điểm mới của đề tài: - Hình thành phương pháp học tập chủ động sáng tạo, phương pháp tự học, tự nghiên cứu, vừa học vừa áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, phát triển năng lực và phẩm chất người học.
- Học sinh được tìm hiểu các cây trồng được sử dụng hàng ngày, các thành tựu về tạo giống ở Việt Nam và thế giới. - Thực hiện được dự án, đề tài về các sản phẩm công nghệ tế bào và công nghệ chuyển gen. Làm được tập san các bài viết, tranh ảnh về thành tựu tạo giống. - Tranh luận, phản biện được về việc sản xuất và sử dụng sản phẩm biến đổi gen và đạo đức sinh học.
Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. - Phương pháp điều tra nhu cầu và hứng thú của học sinh đối với chủ đề. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
5 skkn PHẦN II: NỘI DUNG 1. Cơ sở khoa học 1.1 Các khái niệm Năng lực: Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt. Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động. Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy.
Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do học tập, tập luyện. Phát triển năng lực là phát triển những khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, phát triển nhân cách, trong đó tính tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhân đóng vai trò quyết định. Phát triển sự kiên trì học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm của bản thân trong hoạt động thực tiễn. Phát triển khả năng thực hiện thành công hoạt động trong bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và phát triển các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… Phát triển các năng lực chung cũng như năng lực đặc thù của học sinh.
Định hướng phát triển năng lực là đảm bảo hướng tới phát triển năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kỹ năng, kiến thức cơ bản, hiện đại và thiết thực; giáo dục hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú trọng vào việc thực hành, vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã được trang bị trong quá trình học tập để giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống hàng ngày; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên. Thông qua hình thức tổ chức giáo dục và các phương pháp giáo dục, phát huy tiềm năng và tính chủ động của mỗi học sinh. Đồng thời có những phương pháp đánh giá phù hợp giá phù hợp với mục tiêu giáo dục đặt ra. Định hướng nhằm phát triển tối đa tiềm năng vốn có của từng đối tượng học sinh khác nhau, dựa trên các đặc điểm tâm - sinh lí, nhu cầu, khả năng, hứng thú và định hướng nghề nghiệp khác nhau của từng học sinh.
Giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp các kỹ năng, kiến thức. thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết một cách hiệu quả nhất các vấn đề xảy ra trong học tập và đời sống hàng ngày, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng sống. Dạy học phát triển năng lực là quá trình thiết kế, tổ chức và phối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học, tập trung vào kết quả đầu ra của quá trình này. Trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một giai đoạn (hay một quá trình) dạy học.
Trong mô hình này, người học có thể thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình. Điều đó có nghĩa là người học phải chứng minh mức độ nắm vững và làm chủ các kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực); huy động tổng hợp mọi nguồn lực (kinh 6 skkn nghiệm, kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí,…) trong một môn học hay bối cảnh nhất định, theo tốc độ của riêng mình. Đặc điểm của dạy học phát triển năng lực Đặc điểm quan trọng nhất của dạy học phát triển năng lực là xác định và đo lường được “năng lực” đầu ra của học sinh. Dựa trên mức độ làm chủ kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh trong quá trình học tập.
Các đặc điểm nổi bật của dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Đặc điểm về mục tiêu: Chú trọng hình thành phẩm chất và năng lực thông qua việc hình thành kiến thức, kỹ năng; mục tiêu dạy học được mô tả chi tiết và có thể đo lường và đánh giá được. Dạy học để biết cách làm việc và giải quyết vấn đề. Đặc điểm về nội dung dạy học: Nội dung được lựa chọn nhằm đạt được các mục tiêu năng lực đầu ra.
Chú trọng các kỹ năng thực hành, vận dụng vào thực tiễn. Nội dung chương trình dạy học có tính mở tạo điều kiện để người dạy và người học dễ cập nhật tri thức mới. Đặc điểm về phương pháp tổ chức: + Người dạy chủ yếu đóng vai trò là người tổ chức, cố vấn, hỗ trợ người học chiếm lĩnh tri thức; chú trọng phát triển khả năng giải quyết vấn đề. + Đẩy mạnh tổ chức dưới dạng các hoạt động, người học chủ động tham gia các hoạt động nhằm tìm tòi khám phá, tiếp nhận tri thức mới.
+ Kế hoạch bài dạy được thiết kế có sự phân hóa theo trình độ và năng lực của người học. + Người học có nhiều cơ hội được bày tỏ ý kiến, quan điểm và tham gia phản biện. Đặc điểm về không gian dạy học: Không gian dạy học có tính linh hoạt, tạo không khí cởi mở, thân thiện trong lớp học. Lớp học có thể trong phòng hoặc ở ngoài trời, trong công viên, bảo tàng… nhằm dễ dàng tổ chức các hoạt động nhóm.