Nghiên cứu ứng dụng công nghệ xử lý nitơ vô cơ trong quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Luận án nghiên cứu ứng dụng công nghệ xử lý nitơ vô cơ trong quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Nghiệp

Chuyên ngành

Quản Lý Môi Trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2022

136
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình NTTS nước lợ trên thế giới và Việt Nam

1.2. Tình hình NTTS nước lợ ở Việt Nam và Hải Phòng

1.3. Tình hình nuôi trồng thủy sản hoàn lưu

1.4. Ô nhiễm các hợp chất nitơ vô cơ trong nuôi trồng thuỷ sản nước lợ

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về công nghệ xử lý nitơ

Công nghệ xử lý nitơ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển. Công nghệ xử lý nitơ giúp giảm thiểu ô nhiễm từ các hợp chất nitơ vô cơ, một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản. Việc áp dụng công nghệ này không chỉ cải thiện chất lượng nước mà còn nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Theo nghiên cứu, lượng chất thải từ nuôi trồng thủy sản có thể lên tới hàng trăm ngàn tấn mỗi năm, trong đó chỉ 25% lượng đạm trong thức ăn được chuyển hóa thành sinh khối. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp quản lý và xử lý hiệu quả nguồn thải này.

1.1. Tình hình ô nhiễm môi trường nuôi trồng thủy sản

Ô nhiễm môi trường từ hoạt động nuôi trồng thủy sản đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là ở các vùng ven biển như Hải Phòng. Lượng chất thải phát sinh từ nuôi trồng thủy sản có thể gây ra ô nhiễm nghiêm trọng cho hệ sinh thái ven biển. Các hợp chất nitơ vô cơ như ammonia và nitrite là những chất độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe của các loài thủy sản. Việc xử lý các hợp chất này là một thách thức lớn trong quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu cho thấy, nồng độ ammonia và nitrite cao có thể gây ra tình trạng ngộ độc cho tôm và cá, làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của chúng.

II. Ứng dụng công nghệ RAS trong nuôi trồng thủy sản

Công nghệ nuôi trồng thủy sản hoàn lưu (RAS) là một trong những giải pháp tiên tiến giúp quản lý ô nhiễm môi trường. Hệ thống RAS cho phép xử lý nước nuôi một cách hiệu quả, đảm bảo nước được tái sử dụng mà không thải ra môi trường. Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn nhất của công nghệ này là xử lý ammonia và nitrite. Việc cải thiện hiệu quả xử lý các hợp chất này là điều kiện tiên quyết để công nghệ RAS được áp dụng rộng rãi. Nghiên cứu cho thấy, tốc độ sinh trưởng của vi khuẩn nitrate hóa chậm hơn so với các nhóm vi khuẩn khác, điều này gây khó khăn trong việc xử lý ammonia và nitrite. Do đó, việc phát triển các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý là rất cần thiết.

2.1. Hiệu quả của công nghệ RAS

Công nghệ RAS không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành nuôi trồng thủy sản. Việc áp dụng công nghệ này giúp tiết kiệm tài nguyên nước và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu cho thấy, việc xử lý hiệu quả ammonia và nitrite trong hệ thống RAS có thể giảm chi phí đầu tư và nâng cao năng suất sản phẩm. Điều này không chỉ có lợi cho người nuôi trồng mà còn góp phần phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản ven biển.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nitơ

Để nâng cao hiệu quả xử lý nitơ trong nuôi trồng thủy sản, cần nghiên cứu và phát triển các giải pháp công nghệ mới. Việc tạo ra màng nitrate hóa ứng dụng vào hệ thống nuôi trồng thủy sản hoàn lưu là một trong những giải pháp quan trọng. Màng nitrate hóa giúp tăng cường khả năng xử lý ammonia và nitrite, từ đó cải thiện chất lượng nước nuôi. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng các vật liệu sẵn có như đá sỏi, mảnh vụn san hô chết, và xơ dừa có thể tạo ra giá thể dính bám vi sinh vật hiệu quả. Điều này không chỉ giúp xử lý ô nhiễm mà còn tiết kiệm chi phí cho người nuôi trồng.

3.1. Nghiên cứu và phát triển công nghệ mới

Nghiên cứu về quy trình làm giàu quần xã vi khuẩn nitrate hóa từ môi trường ven biển là một bước quan trọng trong việc phát triển công nghệ xử lý nitơ. Việc tạo ra chế phẩm nitrate hóa bản địa sẽ giúp nâng cao hiệu quả xử lý nitơ trong hệ thống nuôi trồng thủy sản. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc áp dụng công nghệ này có thể cải thiện đáng kể chất lượng nước và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, từ đó góp phần phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản ven biển.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUANVẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình NTTS nước lợ trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình NTTS nước lợ trên thế giới Nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm nói riêng đã và đang tạo ra sự chuyển đổi hiệu quả và mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều quốc gia, cải thiện cuộc sống và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người nuôi trồng.

Nuôi trồng thủy sản sẽ tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng sản lượng thủy sản toàn cầu, kéo dài xu hướng đã tồn tại trong nhiều thập kỷ. Sản lượng nuôi trồng thủy sản được dự báo sẽ đạt 109 triệu tấn vào năm 2030, tăng 32% (26 triệu tấn) so với năm 2018 [5]. Tại các nước châu Á, sản lượng tôm nuôi liên tục tăng nhanh trong giai đoạn từ 2003 – 2016. Năm 2011, sản lượng tôm nuôi đạt 3,7 triệu tấn, năm 2014 là 4,0 triệu tấn, năm 2016 đạt khoảng 4,5 triệu tấn, năm 2018 đạt 4,2 triệu tấn vào năm 2018 và đến năm 2019 đạt khoảng 4,6 triệu tấn với hình thức nuôi chủ yếu là thâm canh và siêu thâm canh [5].

Trái ngược với nhiều dự báo trước đó, sản lượng tôm thế giới năm 2016 có xu thế giảm. Mặc dù ngành tôm Thái Lan phục hồi và đẩy mạnh thu hoạch tôm tại Ecuado vẫn không bù đắp được sản lượng sụt giảm của các quốc gia khác. Tại Trung Quốc năm 2016, sản lượng tôm giảm từ 30 – 40% do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh. Tại Mexico dịch bệnh đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng nuôi tôm, các quốc gia khác ở Trung và Nam Mỹ sản lượng tôm cũng không được cải thiện nhiều [6].

Một trong những nguyên nhân chính làm giảm sản lượng tôm là do dịch bệnh và ô nhiễm môi trường. Trên thực tế 85% sản lượng tôm được thu hoạch từ phương thức nuôi thâm canh, đặc trưng nhất của phương thức này là nuôi với mật độ dày và siêu tải trọng thức ăn, 40% các ao nuôi sẽ phải thay nước hàng ngày để làm giảm các chất ô nhiễm độc hại [7]. Việc thay nước không những gây ô nhiễm môi trường xung quanh mà còn gây nguy cơ bùng phát dịch bệnh cho ao nuôi do nguồn nước cấp không đảm bảo chất lượng. Nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào mật độ nuôi tôm mà tổng số các chất ô nhiễm hữu cơ của phosphor, nitrogen và chất rắn lơ lửng lên tới 321; 668 và 215.000 kg/ha tương ứng.

Khi nước bị ô nhiễm, các hợp chất ammonia tổng số tăng nhanh theo thời gian, trong khi đó để tôm sinh trưởng thì yêu cầu nồng độ NH3 phải nhỏ hơn 0,1 ppm tương đương với 1,33 – 1,53 mg/l TAN ở pH=8 và nhiệt độ 28 – 30oC trong nước ao nuôi [7]. Tình hình NTTS nước lợ ở Việt Nam và Hải Phòng 1.Tình hình nuôi trồng thủy sản nói chung Từ khi Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ra đời, cho phép các tỉnh ven biển ưu tiên chuyển đổi các diện tích hoang hóa, nông nghiệp và làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, thì diện tích nuôi tôm tăng đột biến, từ 280.000 ha (2005) tăng lên đến 605. Việc mở rộng diện tích nuôi được tiến hành chủ yếu trên các vùng ven biển ngập nước như các thủy vực nước mặn trên các vùng cát trũng và một phần diện tích từ canh tác nông nghiệp kém hiệu quả [8]. Diện tích nuôi tôm nước lợ của Việt Nam năm 2019 đạt 720 nghìn ha, năm 2020 đạt khoảng 750 nghìn ha.

Trong đó, diện tích nuôi tôm theo hình thức thâm canh, bán thâm canh đạt hơn 217,4 nghìn ha, chiếm 30% tổng diện tích nuôi cả nước và sản lượng đạt 450 ngàn tấn, chiếm 62% tổng sản lượng tuôi tôm cả nước [1]. Tôm Việt Nam đã có mặt trên 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3,36 tỷ đô la Mỹ; Năm 2020 đã chững lại vào quý I do ảnh hưởng của dịch Covid – 19 nhưng sau đó hy vọng sẽ phục hồi và đạt 3,5 tỷ đô la Mỹ. Dự kiến đến năm 2025 đạt trên 8,4 tỷ đô la Mỹ và đến năm 2030 đạt trên 12 tỷ đô la Mỹ [9]. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức không nhỏ đối với ngành nuôi tôm Việt Nam.

Tại Hải Phòng, theo số liệu của Chi cục Thủy sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích nuôi trồng thủy sản cộng dồn cả năm 2021 đạt 11.430,3 ha bằng 98,01% so với kế hoạch. Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 12/2021 ước đạt 6.722,3 tấn, bằng 101,48% so cùng kỳ năm 2020; Ước sản lượng cả năm 2021 bằng 75.423,7 tấn đạt 102,8% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích nuôi tôm các loại năm 2021 đạt 2. Trong đó: diện tích nuôi tôm sú đạt 1.888,1 ha; diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng đạt 401,4 ha.

Sản lượng sản xuất và tiêu thụ tôm các loại năm 2021 đạt 6. Trong đó: sản lượng sản xuất và tiêu thu tôm sú đạt 520,4 tấn; tôm thẻ chân trắng đạt 5. Phương thức nuôi trồng hiện nay khoảng 80% tổng sản lượng nuôi theo hình thức thâm canh, 17 -18% nuôi quảng canh, phần rất nhỏ khoảng 2-3% nuôi theo hình thức nuôi tôm công nghệ cao [3]. Áp lực về bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề lớn đang đặt ra đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản tại Hải Phòng.

Với thực tế các cơ sở nuôi trồng thủy sản của thành phố Hải Phòng chủ yếu nuôi theo hình thức thâm canh cải tiến, 7 diện tích vùng nuôi lớn nhưng năng lực đầu tư kém, không bố trí diện tích cho xử lý nước thải, và bùn thải, do vậy, phần lớn chất thải không được xử lý, xả thẳng ra môi trường và chỉ được được xử lý qua khả năng tự làm sạch tự nhiên. Việc xả nước thải, bùn thải chứa thức ăn dư thừa, xác, phân thải của động vật nuôi, các hóa chất, thuốc thủy sản, chất xử lý môi trường đang là vấn đề thực sự đáng lo ngại từ các cơ sở nuôi trồng thủy sản. Tại vùng biển ven bờ Hải Phòng, theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường, các nguồn thải từ lục địa ra biển chiếm từ 60 - 70%. Trong đó, hệ thống sông Thái Bình đổ ra biển qua cửa Cấm và Bạch Đằng đóng góp khoảng 53 - 63%, các chất hữu cơ, dinh dưỡng nitơ và phốt pho chiếm khoảng 27% - 48%.

Báo cáo đã xác định, hoạt động nuôi trồng thủy sản là một trong những ô nhiễm nguồn lớn đang góp phần xả chất thải ra khu vực ven biển [4]. Theo số liệu quan trắc môi trường trong các vùng nuôi trồng thủy sản tại Hải Phòng từ năm 2017 đến nay, nuôi trồng thủy sản ước tính sử dụng 1 năm khoảng 100 tấn diệt tạp, 10.000 tấn vôi bột, 200 tấn chlorine và 3,5 tấn thuốc tím trong quá trình sản xuất để xử lý, cải tạo môi trường, ước tính lượng chất thải phát sinh một năm là 180 triệu m3 nước thải và gần 40.000 tấn bùn thải [3]. Như vậy có thể thấy hoạt động nuôi trồng thủy sản của Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng đang phát triển ngày càng lớn về quy mô, có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế, tuy nhiên đây cũng là những nguồn gây ô nhiễm đáng quan tâm cần có các giải pháp xử lý, khắc phục phù hợp. Tình hình nuôi trồng thủy sản hoàn lưu Công nghệ nuôi trồng thuỷ sản hoàn lưu (RAS) là một trong những giải pháp công nghệ nuôi trông tiên tiến hiện nay.

Hệ thống nuôi bao gồm 2 thành phần chính là bể nuôi, và hệ thống xử lý nước để hoàn lưu. Trong đó, hệ thống xử lý nước hoàn lưu là thành phần cốt lõi quyết định chất lượng nguồn nước cho bể nuôi. Hiện nay, phần lớn các hệ thống xử lý nước tuần hoàn được thiết kế với nguyên lý lọc sinh học, có các mương sinh học chia làm nhiều ngăn, các ngăn được bố trí xen kẽ hở trên và dưới để giúp cho đường nước đi dài nhất. Hiệu quả xử lý của vật liệu lọc và hiệu quả hoạt động các vi sinh vật sẽ quyết định chất lượng nước tuần hoàn.

Khi hệ thống xử lý nước tuần hoàn hoạt động đảm bảo, toàn bộ nước nuôi sẽ được xử lý đảm bảo yêu cầu để có thể cấp lại cho hệ thống nuôi mà không thải ra 8 ngoài môi trường. Áp dụng công nghệ RAS là một trong những giải pháp công nghệ phù hợp giúp giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, hiện nay, công nghệ RAS chưa được phổ biến trong ngành nuôi trồng thủy sản của Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung. Trên quy mô của Hải Phòng hiện nay mới chỉ có khoảng 1-2 cơ sở nuôi trồng thủy sản bằng công nghệ này, với quy mô nuôi trồng khoảng 10 - 20 tấn/năm.

Trên quy mô cả nước, số cơ sở nuôi trồng bằng công nghệ này cũng không nhiều với số lượng cơ sở nuôi trồng khoảng hơn 10 cơ sở ở quy mô nhỏ. Một trong những đặc điểm của môi trường nước nuôi trồng thủy sản bằng công nghệ RAS là các chỉ tiêu nitơ vô cơ trong nước nuôi luôn có xu hướng tăng cao do sự phân hủy của thức ăn dư thừa và chất thải từ vật nuôi. Việc xử lý ammonia và nitrite lại thường gặp khó khăn do quá trình nitrate hoá bị giới hạn vì tốc độ sinh trưởng của vi khuẩn nitrate hoá được đánh giá là chậm hơn rất nhiều so với các nhóm vi khuẩn khác. Hơn nữa, sự sinh trưởng và hoạt lực của nhóm vi khuẩn này dễ bị ức chế trong điều kiện môi trường không thuận lợi như thiếu khí và nguồn chất hữu cơ dồi dào.

Hiệu quả xử lý nước để tuần hoàn trong hệ thống RAS đang là vấn đề quyết định tính phổ biến của công nghệ này. Ô nhiễm các hợp chất nitơ vô cơ trong nuôi trồng thuỷ sản nước lợ Ô nhiễm từ các hợp chất của nitơ vô cơ đang là một trong những điểm nóng của ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta do tình trạng lạm dụng thức ăn để nâng cao năng suất. Ô nhiễm ao nuôi tôm chủ yếu là do thức ăn thừa và các chất bài tiết của tôm tích tụ đáy ao gây ô nhiễm hữu cơ [10]. Quá trình tích tụ các chất ô nhiễm nitơ vô cơ trong nuôi trồng thủy sản được thể hiện tại hình 1.

Trung bình 1 ha mặt nước hồ ao nuôi 1 vụ 6 tháng sẽ tạo ra một lượng chất thải khoảng 18.000 kg chất hữu cơ/ha, 1 ha nuôi tôm sú có năng suất 6 - 8 tấn/vụ sẽ thải ra khoảng 3,6 - 4,8 tấn chất thải.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ xử lý nitơ vô cơ trong quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển" từ Trường Đại Học Nông Nghiệp năm 2022, tập trung vào việc áp dụng công nghệ xử lý nitơ vô cơ nhằm cải thiện chất lượng môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản ven biển. Nghiên cứu này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất trong ngành thủy sản, từ đó bảo vệ hệ sinh thái biển và đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý môi trường và các giải pháp xử lý ô nhiễm, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án Moka tại KCN Đông Mai, Quảng Ninh, nơi phân tích tác động của các dự án công nghiệp đến môi trường, hay Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường từ trang trại chăn nuôi lợn tại xã Yên Giang, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, nghiên cứu về ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu đánh giá ô nhiễm nước và giải pháp bảo vệ chất lượng nước sông Vu Gia - Thu Bồn, một tài liệu quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước và quản lý tài nguyên môi trường. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề môi trường hiện nay.