Mở đầu về phép biến hình. Phép tịnh tiến và phép dời hình Về kiến thức: Biết đƣợc định nghĩa phép biến hình. Về kĩ năng: Biết một quy tắc tƣơng ứng là phép biến hình. Dựng đƣợc ảnh của một điểm qua phép biến hình đã cho.
Phép tịnh tiến và phép dời hình (tiếp) Về kiến thức: Biết đƣợc: - Định nghĩa của phép tịnh tiến. - Phép tịnh tiến có các tính chất của phép dờihình. - Biểu thức tọa độ của phép tịnhtiến. Về kĩ năng: Dựng đƣợc ảnh của một điểm, một đoạn thẳng, một tam giác, một đƣờng tròn qua phép tịnh tiến.
Phép đối xứng trục Về kiến thức: Biết đƣợc: - Định nghĩa của phép đối xứngtrục. - Phép đối xứng trục có các tính chất của phép dờihình. - Trục đối xứng của một hình, hình có trục đốixứng. - Biểu thức tọa độ của phép đối xứng qua mỗi trục tọađộ Về kĩ năng: - Dựng đƣợc ảnh của một điểm, một đoạn thẳng, một tam giác qua phép đối xứng trục - ViếtđƣợcbiểuthứctọađộcủamộtđiểmđốixứngvớiđiểmđãchoquatrụcOx hoặc Oy.
- Xác định trục đối xứng của mộthình §4. Phép quay và phép đối xứng tâm 5 Về kiến thức: Biết đƣợc: - Định nghĩa của phépquay. - Phép quay có các tính chất của phép dờihình. Về kĩ năng: - Dựng đƣợc ảnh của một điểm, một đoạn thẳng, một tam giác qua phép quay §6.
Phép vị tự Về kiến thức: Biết đƣợc - Định nghĩa phép vị tự Ảnh của đƣờng tròn qua một phép vịtự. Về kĩ năng: - Dựng đƣợc ảnh của một điểm, một đoạn thẳng, một đƣờng tròn, … qua một phép vị tự. Bƣớc đầu vận dụng đƣợc tính chất của phép vị tự trong bàitập. 1 THPT Những thành tựu của CNTT có thể khai thác trong dạy học nhƣ: - Kỹ thuật đồ họa 2 chiều, 3 chiều trên MTĐT dùng để thiết kế các thí nghiệm ảo trong Vật lý, Hoá học, Sinh học… - Công nghệ đa phƣơng tiện (multimedia) với các chuẩn nén dữ liệu MP3, MP4, các phƣơng pháp xử lý âm thanh, đồ hoạ tiên tiến cho phép tích hợp nhiều dạng dữ liệu nhƣ: văn bản, biểu đồ, âm thanh, hình ảnh, video.
vào bài giảng nhằm hỗ trợ tối đa khả năng tiếp thu kiến thức của ngƣời học. - Việc trao đổi thông tin giữa GV với HS, giữa HS với HS đƣợc thực hiện trên mạng máy tính và internet. - Sự phát triển của các ngành khoa học trong lĩnh vực tin học nhƣ: trí tuệ nhân tạo, hệ chuyên gia, mạng nơ-ron, vấn đề xử lý tri thức đã cho phép chế tạo và điều khiển MTĐT bắt chƣớc suy nghĩ và hành động của con ngƣời. Trong thời gian gần đây việc sử dụng MTĐT trong các công việc đòi hỏi suy luận nhƣ chứng minh các mệnh đề toán học đã trở thành hiện thực.
- Sự phát triển của công nghiệp phần mềm đã cung cấp hàng loạt các PMDH, PMDH thông minh, các phần mềm công cụ với giao diện hết sức “thân thiện” hỗ trợ GV và HS trong dạy và học. Đặc biệt, những PMDH có khả năng phục vụ những ý đồ sƣ phạm nhƣ sau: 6 + Tạo môi trƣờng tƣơng tác để ngƣời học hoạt động và thích nghi với môi trƣờng. Việc dạy học diễn ra trong quá trình hoạt động và thích nghi đó. + Tạo điều kiện cho ngƣời học hoạt động độc lập tới mức độ cao, tách GV khỏi những khoảng thời gian dài mà vẫn đảm bảo mối liên hệ ngƣợc trong quá trình dạy học.
Do đó, việc sử dụng những PMDH của máy vi tính dẫn đến những kiểu dạy học mới, chẳng hạn dạy học cá thể hóa và dạy học từ xa. + Tạo điều kiện thực hiện những ý tƣởng vĩ đại trong giáo dục nhƣ học mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời, nâng cao tính nhân văn, dân chủ của nền giáo dục. Ý tƣởng nêu cuối cùng khả thi ở chỗ CNTT có thể giúp học sinh dù ở những nơi xa xôi hẻo lánh đến đâu đều có khả năng chinh phục khoảng cách, tiếp thu nội dung giáo dục hiện đại nhất ở địa điểm bất kì trên thế giới. Họ có thểchọn chƣơng trình học, chọn thầy dạy, có thể học không chỉ một thầy giỏi mà còn giao lƣu với nhiều bạn học ở những địa điểm khác nhau.
Vì thế, HSở mọi nơi đều có quyền và có điều kiện tiếp thu chƣơng trình học, thậm chí có thầy học nhƣ nhau. Đƣơng nhiên, sử dụng CNTT nhƣ công cụ dạy học đòi hỏi phải có một sự đầu tƣ lớn. Tuy nhiên, hiện nay nhiều trƣờng học đã có thể trang bị cơ sở vật chất để dạy học tin học thì cũng có thể sử dụng cơ sở vật chất đó để thực hiện tới mức độ nhất định việc đƣa CNTT vào hỗ trợ quá trình dạy học những môn học khác nhau.Một điều cần lƣu ý là cần tránh sự lạm dụng phƣơng tiện kỹ thuật một cách không cần thiết. Trƣờng hợp nào máy vi tính không hơn gì chiếc bảng đen hoặc trang sách giáo khoa thì không nên dùng máy vi tính trong dạy học.Khi ứng dụng CNTT & TT trong dạy học, HS đƣợc nhúng vào một môi trƣờng hết sức mới mẻ, hấp dẫn, đa dạng và có tính trợ giúp cao, môi trƣờng này chƣa hề có trong nhà trƣờng truyền thống.
Đó là các vi thế giới, các môi trƣờng sách điện tử, lớp học ảo, trƣờng học ảo, …. CNTT & TT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phƣơng pháp và hình thức dạy học. Những phƣơng pháp dạy học theo thuyết kiến tạo, phƣơng pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để áp dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học nhƣ dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi 7 trƣờng CNTT & TT.
Đó là: Cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, các cá nhân làm việc theo các nhóm linh hoạt, các nhóm ảo. Các hoạt động khám phá trong dạy học toán với sự trợ giúp của CNTT & TT không sử dụng mạng Internet thƣờng là các hoạt động khám phá với sự trợ giúp của phần mềm Toán học. Xem xét dƣới góc độ phần mềm trợ giúp môn toán, có thể chia làm ba loạ với sự trợ giúp của phần mềm Hình học độ với sự trợ giúp của phần mềm tính toán hình thứ với sự trợ giúp của một số phần mềm trợ giúp Toán họckhác. Phần mềm Hình học động có khả năng minh họa, kiểm chứng tính đúng sai của các bài toán mới, các bài toán phức tạp một cách trực quan và chính xác.
Nó là công cụ giúp GV phát triển tƣ duy, lập luận Toán học và kiểm chứng cho HS. Thông qua phần mềm Hình học động, GV có thể thiết kế các tình huống dạy học tích cực hóa ngƣời học. Phần mềm Hình học động có những tiện ích sau: Giúp cho HS tính cẩn thận, tính tỉ mỉ, lao động khoa học một cách kiên trì, nghiêm túc, quyết đoán. Một số phần mềm Hình học động nổi tiếng hiện nay là Cabri, GeoGebra, Sketchpad, Geoplane,GeospacW.
Phần mềm tính toán hình thức là phần mềm mạnh về xử lí các bài toán tính toán phức tạp. Nhờ ƣu điểm là nhiều hàm, tốc độ xử lí cao mà phần mềm tính toán hình thức trợ giúp đắc lực trong các bài toán cần đến sự hỗ trợ này. Một số phần mềm tính toán hình thức chẳng hạn nhƣ Maple, MatLab, Mathematica,. trợ giúp rất tốt trong các bài toán số học, Đại số, Giải tích và hình Giải tích sơ cấp và caocấp.
Ngoài các phần mềm Hình học động và tính toán hình thức thì còn có một số phần mềm Toán học khác chuyên phục vụ cho một phần nào đó của Toán học. Các phần mềm này không phải là phần mềm Hình học động, cũng không phải là phần mềm tính toán hình thức. Một ví dụ khá thuyết phục là phần mề. 8 Geometer's Sketchpad là phần mềm để nghiên cứu và giảng dạy hình học.
Phần mềm này có thể hỗ trợ đắc lực cho việc giảng dạy hình học ở các trƣờng THPT. Phần mềm có chức năng chính là vẽ, mô phỏng quĩ tích, các phép biến đổi của các hình học phẳng. Với phần mềm này, chúng ta có thể xây dựng đƣợc các điểm, đƣờng thẳng, đƣờng tròn, tạo trung điểm của một đoạn thẳng, dựng một đƣờng thẳng song song với một đƣờng thẳng khác, dựng đƣờng tròn với một bán kính cố định, xây dựng đồ thị quan hệ hình học,… Sử dụng GSP chúng ta có thể tạo hình với không gian không có giới hạn. Ví dụ nhƣ khi vẽ một đƣờng thẳng, độ dài của đƣờng thẳng là vô tận, nếu vẽ đƣờng thẳng với công cụ thông thƣờng: giấy, thƣớc, bút thì chắc hẳn sẽ gặp trở ngại là giới hạn không gian vẽ nhƣng với GSP, chúng ta không cần phải lo lắng về điều đó.
Hơn nữa, phần mềm GSP giúp giáo viên soạn thảo bài giảng một cách trực quan, dễ đƣa kiến thức mới cho học sinh, giúp học sinh hứng thú hơn khi học toán. GSP tuân thủ những tính chất bất biến của hình hình học, do đó vẽ hình bằng GSP không những giúp giáo viên có đƣợc một hình vẽ hoàn chỉnh trong thời gian ngắn hơn mà còn giúp giáo viên nắm chắc hơn các khái niệm, định lý hình học. Thông qua việc biến hình (thay đổi vị trí một điểm, quan sát sự di chuyển của điểm khác,…) giáo viên có thể khai thác bài toán hình học dƣới nhiều góc độ khác nhau, từ đó tìm đƣợc phƣơng án để tổ chức dạy học trên lớp sao cho học sinh hiểu hình vẽ, hiểu bài học. Thực trạng việc áp dụng CNTT trong dạy học ở trƣờng THPT Qua thực tiễn khảo sát tại một số trƣờng trung học phổ thông THPT Lê Văn Hƣu, chúng tôi thu đƣợc một số kết quả sau: 17% GV sử dụng các phần mềm toán học nhƣ GeoGebra, Sketchpad, Cabri và Maple trong hỗ trợ dạy học Toán; có đến 83% GV chƣa bao giờ sử dụng những phần mềm này.
Về phƣơng pháp khai thác phần mềm, GV thƣờng sử dụng phần mềm trong việc hỗ trợ vẽ hình, soạn giáo án, minh họa kết quả tính toán mà ít chú trọng đến việc dạy học khái niệm, định lý, hỗ trợ HS khám phá các tính chất, kiểm tra các giả thuyết toán học, tìm tòi phƣơng pháp giải, xây dựng các lập luận và chứng minh giảthuyết,… 9 Chúng tôi nhận thấy việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán gặp một số khó khăn sauđây: - Phần lớn các GV ngại sử dụng giáo án điện tử vì nghĩ rằng sẽ tốn thời gian để chuẩn bị một bài giảng. Việc thực hiện một bài giảng một cách công phu với những hình ảnh, video minh họa trong các giờ học lý thuyết là một điều mà các giáo viên ít nghĩ đến.