Nghiên cứu tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ Hà Nội giai đoạn 2014-2016

Luận án tiến sĩ phân tích tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ Hà Nội giai đoạn 2014-2016, cung cấp thông tin quan trọng cho nghiên cứu y tế.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ung Thư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2020

146
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái niệm ung thư vú

1.2. Dịch tễ học bệnh ung thư vú

1.3. Tỉ suất mắc ung thư vú

1.4. Ghi nhận ung thư quần thể

1.5. Các yếu tố nguy cơ của ung thư vú

1.6. Sàng lọc ung thư vú

1.7. Dự phòng ung thư vú

1.8. Chẩn đoán ung thư vú

1.9. Chẩn đoán Giai đoạn

1.10. Chẩn đoán mô bệnh học

1.11. Phân loại ung thư vú theo hội nghị St.

1.12. Điều trị ung thư vú

1.13. Điều trị phẫu thuật

1.14. Điều trị xạ trị

1.15. Điều trị nội tiết

1.16. Điều trị đích

1.17. Thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư vú

1.18. Thành phố Hà Nội- Địa bàn thực hiện nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Cách chọn mẫu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Các biến số nghiên cứu

2.7. Các chỉ số nghiên cứu

2.8. Nguồn cung cấp số liệu và công cụ nghiên cứu

2.9. Công cụ thu thập số liệu

2.10. Thu thập và xử lý thông tin

2.11. Phương pháp phân tích số liệu

2.12. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả thu thập số liệu nghiên cứu và một số đặc trưng của đối tượng nghiên cứu

3.2. Kết quả thu thập số liệu nghiên cứu

3.3. Một số đặc trưng của bệnh nhân ung thư vú mắc mới giai đoạn 2014-2016

3.4. Tỉ suất mắc mới ung thư vú

3.5. Tỉ suất mắc mới ung thư vú thô

3.6. Tỉ suất mắc mới ung thư vú chuẩn theo tuổi

3.7. Kết quả sống thêm

3.8. Kết quả sống thêm toàn bộ

3.9. Liên quan giữa sống thêm toàn bộ và giai đoạn bệnh

3.10. Liên quan sống thêm và kích thước u (T)

3.11. Liên quan giữa sống thêm toàn bộ và mức độ di căn hạch nách

3.12. Liên quan giữa sống thêm toàn bộ và tình trạng di căn hạch

3.13. Liên quan giữa sống thêm toàn bộ và kết quả mô bệnh học

3.14. Phân tích đa biến các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống thêm

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tỉ suất mắc mới ung thư vú ở phụ nữ tại thành phố Hà Nội

4.2. Tỉ suất mắc mới chung

4.3. Tỉ suất mới mắc theo tuổi

4.4. Tỉ lệ mắc theo giai đoạn

4.5. Tỉ suất mới mắc theo khu vực

4.6. Kết quả sống thêm toàn bộ và các yếu tố liên quan

4.7. Kết quả sống thêm toàn bộ

4.8. Sống thêm toàn bộ theo giai đoạn bệnh

4.9. Sống thêm toàn bộ theo kích thước u

4.10. Sống thêm toàn bộ theo tình trạng di căn hạch

4.11. Sống thêm toàn bộ theo mô bệnh học

4.12. Một số hạn chế và khó khăn của nghiên cứu

4.13. Tính đầy đủ và chính xác trong ghi nhận ung thư vú tại Hà Nội

4.14. Phương pháp nghiên cứu

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tình hình ung thư vú ở phụ nữ Hà Nội 2014 2016

Nghiên cứu về tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ Hà Nội trong giai đoạn 2014-2016 cho thấy một bức tranh rõ nét về tình hình ung thư vú tại khu vực này. Theo số liệu thu thập, tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ Hà Nội đã có sự gia tăng đáng kể, phản ánh xu hướng chung của bệnh ung thư vú trên toàn quốc. Cụ thể, tỷ lệ mắc mới ung thư vú chuẩn hóa theo tuổi trong giai đoạn này đạt mức cao, cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình sàng lọc ung thư vú hiệu quả hơn. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể cải thiện đáng kể thời gian sống thêm của bệnh nhân. Theo báo cáo, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân ung thư vú cũng có sự cải thiện, nhờ vào những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị.

1.1. Tỷ lệ mắc mới và các yếu tố liên quan

Trong giai đoạn 2014-2016, tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ Hà Nội được ghi nhận là 32,6/100.000 dân. Các yếu tố như tuổi tác, tình trạng sức khỏe và lối sống có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ mắc mới này. Nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ ở độ tuổi từ 40 đến 60 có nguy cơ ung thư vú cao hơn. Ngoài ra, các yếu tố di truyền và môi trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng tỷ lệ mắc mới ung thư vú. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp các cơ quan y tế xây dựng các chiến lược phòng ngừa hiệu quả hơn.

1.2. Tình hình phát hiện và chẩn đoán

Việc phát hiện sớm ung thư vú thông qua các chương trình khám sàng lọc đã được triển khai tại nhiều cơ sở y tế ở Hà Nội. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ tham gia khám sàng lọc vẫn còn thấp. Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều phụ nữ chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc khám sàng lọc định kỳ. Điều này dẫn đến việc phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, ảnh hưởng đến thời gian sống thêm của bệnh nhân. Cần có các chiến dịch truyền thông mạnh mẽ hơn để nâng cao nhận thức của cộng đồng về ung thư vú và lợi ích của việc phát hiện sớm.

1.3. Kết quả sống thêm và các yếu tố ảnh hưởng

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống sót của bệnh nhân ung thư vú ở Hà Nội có sự cải thiện đáng kể trong giai đoạn 2014-2016. Các yếu tố như giai đoạn bệnh, kích thước khối u và tình trạng di căn hạch nách có ảnh hưởng lớn đến thời gian sống thêm. Bệnh nhân được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có tỷ lệ sống sót cao hơn so với những người được phát hiện ở giai đoạn muộn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khám sàng lọc và phát hiện sớm trong việc cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân ung thư vú.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm ung thư vú Ung thư vú là ung thư biểu mô tuyến vú, tổn thương là khối u ác tính nguyên phát tại vú, có thể ở bất kỳ vị trí nào trong tuyến vú; khối u có thể xâm lấn di căn đến các vị trí khác trong cơ thể, thường gặp ở xương, gan, phổi và não [13]. Dịch tễ học bệnh ung thư vú 1. Tỉ suất mắc ung thư vú 1.

Tỉ suất mắc ung thư vú trên thế giới Tỉ suất mới mắc chuẩn hoá theo tuổi của ung thư vú trên phạm vi toàn thế giới là 46,3/100.000 dân và tỉ suất hiện mắc/5 năm là 181,8/100. Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn về tỉ suất này giữa các vùng địa dư trên thế giới. Tỉ suất mới mắc ung thư vú cao nhất ở châu Úc (86,7/100.000 dân), tiếp theo là Nam Mỹ và châu Âu (84,8/100.000 dân) và thấp nhất là ở châu Phi và châu Á (37,9/100. Châu Á có tỉ suất mắc mới chuẩn theo tuổi thấp nhất nhưng số ca mắc mới cao nhất (911.014 ca); châu Phi có số ca mắc mới cao thứ tư (168.

Tỉ suất mắc mới chuẩn hoá theo tuổi và tỉ suất hiện mắc ung thư vú theo ghi nhận của Globocan 2018 Số mới Tỉ suất mới Số hiện Tỉ suất hiện Khu vực mắc mắc/100000 mắc/5 năm mắc/5 năm Thế giới 2.887 534,7 Châu Mỹ La tinh 199.902 189,5 Mỹ và Canada 262.015 57,4 luan an 4 Hình 1. Tỉ suất mắc mới chuẩn hóa theo tuổi toàn thế giới Nguồn: GLOBOCAN 2018 Tỉ suất hiện mắc 5 năm chung cả thế giới là 181,8/100.000 dân, trong đó các nước châu Âu, Châu Mỹ và châu Úc cao nhất. Điều đó chứng tỏ những trường hợp ung thư vú được phát hiện sớm và chữa khỏi ở những nước này rất cao, chương trình sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú rất hiệu quả và chất lượng điều trị tốt. Tỉ suất này thấp nhất ở Châu Á và châu Phi.

Tại Châu Á, tỉ suất mắc cao hàng đầu là Singapore (64,0/100.000 dân), Hàn Quốc (59,8/100.000 dân), Nhật Bản (57,6/100. Campuchia, Việt Nam và Lào là 3 nước có tỉ suất mắc ung thư vú thấp nhất, với tỉ suất mắc mới lần lượt là 21,7/100. Tỉ suất mới mắc ung thư vú một số quốc gia khu vực châu Á năm 2018 (Nguồn: GLOBOCAN 2018) Xếp hạng Quốc gia Tỉ suất mới mắc chuẩn hoá theo tuổi/ 100.000 1 Singapore 64,0 2 Hàn Quốc 59,8 3 Nhật Bản 57,6 4 Philippin 52,4 5 Malaysia 47,5 6 Indonesia 42,1 7 Trung Quốc 36,1 luan an 5 8 Thái Lan 35,7 9 Lào 32,7 10 Việt Nam 26,4 11 Campuchia 21,7 1. Tỉ suất mắc ung thư vú tại Hà Nội và Việt Nam Số liệu ghi nhận ung tại Việt Nam từ năm 2000 cho thấy ung thư vú đều đứng hàng thứ nhất trong số các bệnh ung thư ở nữ.

Xu hướng của ung thư vú gia tăng theo thời gian từ 2000-2010. Trong vòng 10 năm, tỉ suất mắc của ung thư vú ở nữ giới được chuẩn hoá tăng gấp hơn 2 lần (từ 17,4/100. Theo báo cáo mới nhất GLOBOCAN 2018, ước tính tại Việt Nam, ung thư vú vẫn đứng đầu các bệnh ung thư ở nữ giới với 15.222 ca mới mắc, với tỉ suất mắc chuẩn hóa theo tuổi là 26,4/100. Tuy nhiên đây là số liệu chưa đầy đủ, do đó, chưa phản ánh hết tỉ suất mắc mới ung thư vú tại Việt Nam.

Tỉ suất mới mắc ung thư vú ở nữ giới tại Việt Nam 2000-2010 Ung thư vú Năm 2000 Năm 2010 Năm 2018 Số ca mắc 5.229 Tỉ suất mắc chuẩn theo tuổi 17,4 29,9 26,4 Xếp hạng 1 1 1 (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động phòng chống ung thư giai đoạn 2011-2014 thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Y tế [70]) Một số nghiên cứu tại một số tỉnh/thành phố, sử dụng phương pháp ghi nhận ung thư vú cũng cung cấp thêm các thông tin về tỉ suất mắc ung thư vú ở bảng dưới đây. luan an 6 luan an 7 Bảng 1. Tỉ suất mới mắc ung thư vú ở nữ tại một số tỉnh thành năm 2004-2013 Tỉnh/thành phố ASR/100.000 dân (nữ giới) Thành phố Hồ Chí Minh 22,4 Thành phố Hà Nội 32,6 Hải Phòng 20,3 Thái Nguyên 10,3 Cần Thơ 24,3 (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động phòng chống ung thư giai đoạn 2011-2013 thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Y tế [70]) Trong giai đoạn từ 2004-2013, tỉ suất mới mắc ung thư vú chuẩn hoá cao nhất ở Thành phố Hà Nội (32,6/100. Tiếp theo là tỉ suất mới mắc ung thư vú chuẩn hoá tại Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ (22,4/100.

Thấp nhất là Thái Nguyên (10,3/100. Những số liệu từ những báo cáo trên chỉ là ước lượng do những hạn chế về hệ thống báo cáo thống kê y tế. Vẫn còn có trường hợp ung thư vú không đi khám chữa bệnh và ở nhà cho đến khi tử vong do không tiếp cận được với cơ sở y tế, đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa. Có thể có những trường hợp ung thư vú đi khám và điều trị ở tỉnh thành khác hoặc ở nước ngoài chưa được ghi nhận tại địa phương.

Ghi nhận ung thư quần thể Ghi nhận ung thư là quá trình thu thập một cách có hệ thống và liên luan an 8 tục số liệu về tình hình mắc và những đặc điểm của ung thư được ghi nhận. Một cơ sở ghi nhận ung thư là cơ quan làm nhiệm vụ thu thập, lưu trữ, phân tích và lý giải những số liệu về những ca ung thư trong khu vực chịu trách nhiệm. Ghi nhận ung thư có ý nghĩa quan trọng trong việc dự phòng và kiểm soát ung thư. Các thông tin ghi nhận ung thư là nền tảng quan trọng cho đánh giá gánh nặng bệnh tật của ung thư, xây dựng các chính sách và chiến lược phòng, chống ung thư hiệu quả.

Số liệu ghi nhận ung thư cũng cho phép đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp phòng, chống ung thư, cũng như đánh giá hiệu quả điều trị. Lịch sử ghi nhận ung thư Với một loạt các cố gắng ban đầu ở một số nước châu Âu đã cho phép ước lượng được số ca mới mắc và số ca hiện mắc ở trong quần thể ở những năm của thế kỷ thứ 18. Ở nước Đức, việc ghi nhận ung thư đã bắt đầu từ năm 1900, ghi nhận tất cả các trường hợp bị ung thư đã được điều trị. Bộ câu hỏi đã gửi đến tận tay các thầy thuốc lâm sàng để ghi lại tất cả các trường hợp ung thư vào ngày 15 tháng 10 năm 1900 [65].

Sau đó, những bộ câu hỏi tương tự đã được thông qua vào giữa năm 1902 và 1908 ở Đức, Hungary, Iceland, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Thụy Điển [65]. Tuy nhiên, những cố gắng trong ghi nhận ung thư đã không thành công, do sự không hợp tác của các thầy thuốc ở các bệnh viện. Một số nghiên cứu tương tự như vậy đã được tiến hành ở Hoa Kỳ [65]. Ghi nhận ung thư quần thể đầu tiên cũng được thực hiện ở Hamburg (Đức) năm 1926.

Ba nữ y tá đã đến các bệnh viện và các phòng khám ở thành phố đều đặn. Họ đã ghi lại tên của các bệnh nhân mới mắc ung thư và nhập số liệu vào phòng thống kê. Những số liệu này được so sánh một lần một tuần với nơi cấp giấy chứng tử. Cho đến nay, đã có hơn 200 tổ chức ghi nhận ung thư quần thể ở các nước và các vùng khác nhau trên toàn thế giới, chiếm khoảng 5% dân số thế giới, nhưng chủ yếu tập trung luan an 9 ở các nước phát triển [66].

Ở các nước đang phát triển, việc ghi nhận ung thư thường chỉ thực hiện ở vùng thành thị, nơi mà việc tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh tốt nhất. Hệ thống ghi nhận ung thư quần thể thực hiện rộng rãi ở các nước như Anh, xứ Wale, Scotland, các nước ở Bắc Âu, Canada, Úc, New Zealand, Israel, Cuba, Zambia. Đan Mạch là nước ghi nhận ung thư phủ khắp toàn quốc từ những năm 1942. Tuy nhiên, ở hầu hết các nước, ghi nhận ung thư quần thể mới chỉ thực hiện được ở khu vực giới hạn (như Colombia, Ấn Độ, Ý, Hoa Kỳ).

Một số ghi nhận đặc biệt chỉ ghi nhận ung thư ở những nhóm tuổi nhất định (ung thư trẻ em ở Oxford, Anh) hoặc vị trí đặc biệt (ung thư dạ dày ruột ở Lyon, Pháp). Và ghi nhận ung thư ở bệnh viện được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới [66]. Tại Việt Nam, công tác ghi nhận ung thư đã được thực hiện từ năm 1987, tại Hà Nội, và sau đó mở rộng thành hệ thống ghi nhận ung thư quốc gia từ năm 2008 tại 6 tỉnh/thành phố, gồm Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên - Huế và Cần Thơ. Đến nay, đã có có thêm 3 tỉnh/thành phố tham gia công tác này, nâng tổng số điểm ghi nhận ung thư lên 9 tỉnh/thành phố (Các điểm mới gồm Thanh Hoá, Đà Nẵng, Kiên Giang).

Nhờ đó, đã ghi nhận được 16 loại ung thư phổ biến ở cả nam và nữ. Mục đích của ghi nhận ung thư Ghi nhận ung thư có ý nghĩa rất lớn trong việc dự phòng và kiểm soát ung thư. Các thông tin ghi nhận này đóng vai trò cung cấp các tiền đề cho các nghiên cứu từ cơ sở cho tới cộng đồng. Nhưng tựu chung lại, ghi nhận ung thư có những vai trò như sau: Theo dõi và đánh giá gánh nặng bệnh ung thư: dữ liệu ghi nhận ung thư quần thể cho phép ước tính các chỉ số đo lường về gánh nặng bệnh tật của ung thư như tỉ suất mới mắc, tỉ suất hiện mắc, tỉ suất tử vong do ung thư.

Dữ luan an 10 liệu ghi nhận ung thư cũng cho phép xác định các nhóm ưu tiên thông qua mô tả các phân bố về tuổi, giới, địa dư và kinh tế-văn hóa. Ngoài ra, một hệ thống ghi nhận ung thư tốt cũng cho phép đánh giá về xu hướng mắc bệnh và tử vong do ung thư, từ đó đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp về phòng, chống ung thư.  Giúp hình thành các giả thuyết nghiên cứu: ghi nhận ung thư là thu thập và phân tích dữ liệu một cách có hệ thống và liên tục, vì vậy có thể đưa ra những câu hỏi hay những giả thuyết cung cấp hướng đi cho các nghiên cứu sâu hơn. Việc so sánh các ung thư theo thời gian và không gian là những thông tin quan trọng cho việc xây dựng các giả thuyết về nguyên nhân đặc biệt là tìm hiểu vai trò các yếu tố sinh ung thư là cơ sở cho các hoạt động phòng ngừa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ Hà Nội giai đoạn 2014-2016" của tác giả Nguyễn Thị Mai Lan, dưới sự hướng dẫn của PGS. Bùi Diệu, đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình ung thư vú tại Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2014 đến 2016. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định tỷ lệ mắc mới mà còn chỉ ra các yếu tố nguy cơ liên quan, từ đó góp phần nâng cao nhận thức và cải thiện các biện pháp phòng ngừa cũng như điều trị cho bệnh nhân. Đối với độc giả, bài viết này mang lại thông tin quý giá về tình hình sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là trong lĩnh vực ung thư, giúp họ hiểu rõ hơn về căn bệnh này và tầm quan trọng của việc phát hiện sớm.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến ung thư, có thể tham khảo thêm bài viết "Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode", nơi nghiên cứu về các phương pháp điều trị ung thư hiện đại. Bên cạnh đó, bài viết "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy và nạo hạch trong điều trị ung thư vùng đầu tụy" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị ung thư khác. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị anthracycline và taxane" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp hóa trị trong điều trị ung thư vú. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các khía cạnh khác nhau của ung thư và các phương pháp điều trị hiện có.