Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ TRUYỀN HÌNH VỚI TUYÊN TRUYỀN VỀ BIỂN ĐẢO 1. Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến đề tài: 1. Tuyên truyền Thuật ngữ tuyên truyền được nhiều nhà khoa học giải thích khác nhau. Tuyên truyền theo tiếng La tinh (Propaganda) là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó.
Theo “Đại từ điển tiếng Việt” thì “Tuyên truyền là giải thích rộng rãi để thuyết phục, vận động mọi cá nhân làm theo” [55, tr. Trong “Đại bách khoa toàn thư Liên Xô”, thuật ngữ tuyên truyền được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật. nhằm biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng.
Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng thế giới quan nhất định, phù hợp với lợi ích thế giới quan ấy [11, tr. Với cách hiểu này, tuyên truyền theo nghĩa hẹp là tuyên truyền chính trị, tuyên truyền tư tưởng mà mục đích của nó là hình thành ở đối tượng tuyên truyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũ tính tích cực xã hội của con người. Tuyên truyền là một dạng hoạt động đặc biệt, có tính lịch sử cụ thể và mang bản chất giai cấp. Bởi lẽ, hoạt động tuyên truyền nhằm giải thích, phổ biến, vận dụng những giá trị mà lý luận đã đúc kết và khái quát từ hoạt động thực tiễn và thông qua hoạt động thực tiễn.
Theo “Cơ sở lý luận báo chí” thì: “Tuyên truyền là hoạt động, nhằm truyền bá trong quần chúng nhân dân những tư tưởng nền tảng, những quan điểm chính yếu của hệ tư tưởng của chế độ, nhằm hình thành một bức tranh đặc trưng về thế giới và lịch sử vận động của xã hội” [48, tr. Hoàng Quốc Bảo, tác giả cuốn “Học tập phương pháp Tuyên truyền Cách mạng Hồ Chí Minh” có cách lý giải khác về thuật ngữ tuyên truyền như sau: “Tuyên truyền là phổ biến, giải thích một tư tưởng, một học thuyết, một quan điểm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nào đó, nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượng tuyên truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống.thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ và tính tích cực của con người trong thực tiễn xã hội” [7, tr. Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục tiêu đó, là tuyên truyền thất bại” [24, tr.
Trong cuốn “Về công tác tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam”, PGS. TS Đào Duy Quát cho rằng công tác tuyên truyền, trước ta thường gọi là công tác huấn học, là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Cụ thể: “Công tác tuyên truyền là hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức có cơ sở khoa học thực tiễn quy luật xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, niềm tin vững chắc vào sự đổi mới toàn diện của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hành động tự giác, sáng tạo trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh vững bước lên xã hội chủ nghĩa” [42, tr. Tuyên truyền có nhiều cách phân chia, tùy theo góc độ nghiên cứu.
Nếu theo tính chất hệ tư tưởng thì ta có tuyên truyền tư sản và tuyên truyền vô sản. Nếu phân theo nội dung thì ta có tuyên truyền kinh tế, tuyên truyền chính trị, tuyên truyền văn hóa… Nếu phân theo phạm vi tác động đến đối tượng thì ta có tuyên truyền cá biệt (cho một người), tuyên truyền nhóm và tuyên truyền đại chúng (cho nhiều người). Nếu phân theo phương thức tác động thì có tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng hay tuyên truyền trực tiếp và tuyên truyền gián tiếp. Ngoài ra, chúng ta còn có thể phân tuyên truyền thành tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại… Tuy có những cách lý giải khác nhau về thuật ngữ tuyên truyền, nhưng các khái niệm của các nhà khoa học, các nhà triết học, các nhà tư tưởng đã nêu trên đều có những điểm chung, đó là: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, tuyên truyền là hoạt động truyền bá, phổ biến, giải thích của chủ thể về một tư tưởng, một học thuyết hay một vấn đề nào đó đối với đối tượng tuyên truyền.
Thứ hai, tuyên truyền nhằm đạt tới mục đích là làm thay đổi nhận thức, hình thành một kiểu ý thức xã hội, xây dựng thế giới quan nhất định ở đối tượng cho phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền. Thứ ba, tuyên truyền phải đạt tới hiệu quả là kích thích, thúc đẩy đối tượng hành động theo quan điểm, đường lối, mục đích đặt ra. Tóm lại, hoạt động tuyên truyền là quá trình nhóm người này thông báo cho nhóm người kia một số thông tin, một số kiến thức về các luận điểm lý luận, đường lối, chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong nước và trên thế giới. Đó là quá trình tác động nhằm làm cho đối tượng hiểu, nắm vững thông tin trên cơ sở đó để có thái độ rõ ràng, có niềm tin và đi đến hành động phù hợp với mục đích của chủ thể tuyên truyền.
Trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa quan điểm của các nhà khoa học đã trình bày như trên, tác giả mạnh dạn nêu quan điểm của mình về thuật ngữ tuyên truyền như sau: “Tuyên truyền là hoạt động có mục đích của chủ thể tác động đến đối tượng tuyên truyền thông qua các phương pháp, phương tiện, hình thức tuyên truyền nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượng một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống… tạo nên sự thống nhất trong hành động, từ đó kích thích, thúc đẩy đối tượng hành động theo đường lối, mục tiêu đặt ra. Truyền hình Hiện nay có nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau về truyền hình.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn "Truyền thông đại chúng" chỉ rõ: "Truyền hình là một loại hình phương tiện thông tin đại chúng truyền tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Nguyên nghĩa của thuật vô tuyến truyền hình (Television) bắt nguồn từ Tele có nghĩa là "ở xa" và Vision là "thấy được", tức là thấy được ở xa”. [tr 47; tr 127] Còn theo cuốn “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của PGS.TS Nguyễn Văn Dững thì: "Truyền hình là kênh truyền thông truyền tải thông điệp bằng hình ảnh động với hầu như đầy đủ màu sắc vốn có của cuộc sống cùng với lời 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nói, âm nhạc, tiếng động.
Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ." [23, tr 168] Theo “Giáo trình báo chí truyền hình” của PGS.TS Dương Xuân Sơn: "Truyền hình là kênh truyền thông đại chúng truyền tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện.13] Như vậy tựu chung lại thì truyền hình là thấy được từ xa, được truyền tải đồng thời bằng âm thanh và hành động. Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là một công cụ giải trí hơn là chức năng thông tin. Dần dần truyền hình trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và dịch vụ khác.
Sự ra đời của truyền hình đã giúp cho hệ thống truyền thông đại chúng trở nên hùng mạnh. Không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng. Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh. Với những ưu thế về công nghệ và kỹ thuật, truyền hình đã làm cho cuộc sống trở nên phong phú sinh động hơn về cả hình thức và nội dung trong các chương trình của mình.
Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc. Truyền hình trở thành công cụ vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như lĩnh vực an ninh quốc phòng. Tóm lại, qua những đặc điểm ở trên có thể thấy truyền hình có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội. Nó không chỉ cung cấp thông tin giải trí mà còn góp phần vào sự định hướng dư luận, tuyên truyền các chính sách của Đảng và Nhà nước ta.1 Một số khái niệm a) Biển: Trong từ điển tiếng Việt, biển được định nghĩa: 1.
Vùng nước mặn rộng lớn trên bề mặt trái đất; 2 Vùng đại dương ven lục địa được ngăn cách 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bởi đảo hay đất liền; 3 Khối lượng nhiều đông đảo được ví như biển.Ví dụ Mọi thứ chìm trong biển lửa. Theo định nghĩa thông dụng, biển là phần riêng biệt của đại dương ăn sâu vào đất liền ít hay nhiều. b) Khái niệm đảo và quần đảo Trong công ước của Liên hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, điều 121 Quy định: Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nước [Trích điều 121, Công ước luật Biển 1982]. Đảo theo cách hiểu thông thường là một vùng đất có nước bao quanh.
Đối với người đi biển thì đảo được hiểu là các hải đảo nói chung, bao gốm các đảo, đá. Theo nghĩa pháp lý: Điều 46 Công ước Luật Biển 1982 quy định: “Quần đảo là một nhóm đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước nối các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành một thể thống nhất địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử”.