Tuyển chọn chủng nấm sinh tổng hợp Laccase tại Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế

Tuyển chọn chủng nấm sinh tổng hợp laccase tại Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu tiềm năng ứng dụng enzyme laccase từ nấm địa phương.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

55
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Mục tiêu đề tài

Ý nghĩa của đề tài

Nội dung nghiên cứu

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Cấu tạo của laccase

Đặc tính của laccase

Các nguồn thu nhận laccase

Laccase vi sinh vật

Laccase từ thực vật

Ứng dụng của laccase

Ứng dụng trong công nghiệp

Ứng dụng trong xử lý ô nhiễm môi trường

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân lập, tuyển chọn và định danh chủng nấm sinh tổng hợp laccase

Xây dựng đường cong sinh trưởng và đường cong tích lũy enzyme của chủng nấm phân lập được

Phương pháp khảo sát một số đặc điểm và động học enzyme

Thử nghiệm khả năng phân hủy thuốc nhuộm tổng hợp

Xác định khối lượng protein từ chủng nấm phân lập được

Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Phân lập, tuyển chọn và định danh chủng nấm sinh tổng hợp laccase

3.1.1. Phân lập, tuyển chọn chủng nấm sinh tổng hợp laccase

3.1.2. Định danh chủng HUIBF21

3.2. Xây dựng đường cong sinh trưởng và đường cong tích lũy enzyme của chủng Trametes polyzona HUIBF21

3.2.1. Đường cong sinh trưởng

3.2.2. Đường cong tích lũy enzyme ngoại bào

3.3. Khảo sát một số đặc điểm và động học enzyme ngoại bào

3.3.1. Một số đặc điểm enzyme từ chủng nấm T

3.3.2. Động học enzyme

3.4. Khả năng phân hủy thuốc nhuộm tổng hợp của enzyme

3.5. Xác định khối lượng phân tử laccase ngoại bào

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tuyển Chọn Chủng Nấm Laccase 2024

Ngày nay, việc sử dụng enzyme trong sản xuất và đời sống ngày càng được nhiều nhà khoa học quan tâm. Chế phẩm enzyme đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước và đã mang lại lợi ích kinh tế lớn, đặc biệt là các enzyme có khả năng phân hủy các hợp chất thơm đa vòng, trong đó điển hình là enzyme laccase. Laccase thuộc nhóm polyphenol oxydase, có khả năng oxy hóa diphenol và các hợp chất liên quan. Ưu điểm của laccase là thân thiện với môi trường do chỉ cần oxy từ không khí và sản phẩm phụ duy nhất là nước (Riva, 2006). Laccase có thể được thu từ nhiều nguồn khác nhau, phổ biến nhất là nấm. Hiện nay nhiều chủng nấm đã được phát hiện cho thấy khả năng tổng hợp laccase rất tốt, như: Rhizoctonia solani, Trametes versicolor, Melanocarpus albomyces, Trametes modesta (Nyanhongo et al.). Do nấm có khả năng sinh trưởng phát triển mạnh nên còn tạo thuận lợi cho việc sản xuất laccase ở quy mô lớn phục vụ trong công nghiệp.

1.1. Tính Cấp Thiết Của Việc Nghiên Cứu Nấm Sinh Tổng Hợp Laccase

Trong những năm gần đây, laccase được ứng dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tẩy trắng bột giấy, tẩy màu thuốc nhuộm vải, và chế biến thực phẩm (Kunamneni et al.). Laccase còn được sử dụng trong tổng hợp chất hữu cơ, xử lý các nguồn nước thải bị ô nhiễm bằng việc loại bỏ các hợp chất phenol, ứng dụng trong việc xử lý phụ phẩm của sản phẩm nông nghiệp để tạo nguyên liệu cho các quá trình khác. Phổ ứng dụng của laccase được mở rộng bằng việc kết hợp laccase với các mediator -chất trung gian - làm chúng có khả năng oxy hóa những hợp chất không có bản chất phenol (non-phenol). Việc mở rộng nguồn nguyên liệu sản xuất laccase và việc sử dụng chúng trong thực tế sản xuất, đặc biệt là đối với các quá trình xử lý nước thải công nghiệp, là rất quan trọng.

1.2. Mục Tiêu Ý Nghĩa Khoa Học và Thực Tiễn Của Đề Tài

Đề tài "Tuyển chọn chủng nấm sinh tổng hợp laccase tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế" đặt ra mục tiêu tuyển chọn được chủng nấm có khả năng sinh tổng hợp laccase từ phụ phẩm phế thải, tạo nguồn nguyên liệu ứng dụng xử lý một số chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về chủng nấm sinh tổng hợp laccase, tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu và ứng dụng chủng này để phát triển cho các nghiên cứu tiếp theo ở quy mô phòng thí nghiệm và ứng dụng trong thực tiễn.

II. Cách Phân Lập Định Danh Chủng Nấm Laccase Tại Đà Nẵng

Để thực hiện đề tài, các mẫu mùn cưa và nước thải được thu thập từ các cơ sở chế biến gỗ và cống xả thải khu công nghiệp, đô thị tại địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế (Nguyễn, 2004). Các mẫu sau khi thu thập được tiến hành phân lập bằng phương pháp pha loãng (Nguyễn Lân Dũng et al., 2000) với môi trường phân lập Basal salts medium (BSM) chứa các thành phần: KH2PO4 0.05 g/L có bổ sung guaiacol (0.01% ) (Xu et al., 2015). Chủng nấm sinh tổng hợp laccase được sàng lọc bằng cách quan sát sự phát triển của nấm và sự thay đổi màu sắc của khu vực môi trường nuôi xung quanh khuẩn lạc.

2.1. Quy Trình Tuyển Chọn Vi Sinh Vật Khả Năng Sinh Tổng Hợp Laccase

Khuẩn lạc chuyển sang màu hồng đến nâu đỏ chứng tỏ có sự phân huỷ guaiacol của enzyme, qua đó cho thấy chủng nấm có khả năng sinh tổng hợp laccase (Xu et al.). Sau đó chủng nấm được làm thuần bằng cách tiếp tục cấy truyền các tản nấm trên bề mặt môi trường peptone dextrose agar (PDA: 2% peptone, 20% dịch chiết khoai tây, 1.5% agar) ở 30°C từ 2 đến 3 lần. Chủng nấm sau khi đã làm thuần được giữ giống theo phương pháp lạnh sâu ở -40ºC.

2.2. Phương Pháp Định Danh Nấm Bằng Hình Thái và Sinh Học Phân Tử

Chủng nấm sau khi phân lập và tuyển chọn sẽ được định danh bằng 2 phương pháp gồm định danh bằng đặc điểm hình thái của chủng nấm và định danh bằng sinh học phân tử. Tiến hành quan sát trực tiếp chủng nấm trên môi trường PDA bằng mắt thường và quan sát dưới kính hiển vi quang học. Dựa vào hệ thống phân loại của De Hoog Guarro, Gené & Figueras (2000) để tiến hành định danh sơ bộ. Sau khi định danh sơ bộ, chủng nấm này tiếp tục được định danh ở mức độ phân tử bằng kỹ thuật sinh học phân tử: Tách chiết DNA tổng số, Điện di gel agarose, Khuếch đại trình tự ITS, Giải trình tự và xây dựng cây phả hệ (Tamura et al.).

III. Cách Xây Dựng Đường Cong Sinh Trưởng Của Chủng Nấm

Chủng nấm được nuôi cấy lắc trong môi trường BSM lỏng, ở 30ºC, lắc 180 vòng/phút. Mỗi ngày tiến hành thu toàn bộ dịch nuôi của 1 bình đem lọc bằng giấy lọc, giữ lại phần sinh khối tế bào rồi sấy khô, xác định trọng lượng khô của chủng nấm trong 15 ngày nuôi (Dũng et al.). Tiến hành nuôi cấy lắc chủng nấm trong môi trường sinh tổng hợp laccase BMS bổ sung 10% D-glucose ở 30°C, lắc 180 vòng/phút (Xu et al.).

3.1. Phương Pháp Xây Dựng Đường Cong Sinh Trưởng

Xây dựng đường cong sinh trưởng của chủng nấm phân lập được bằng cách xác định hoạt độ laccase trong 15 ngày với cơ chất ABTS. Hoạt độ của laccase được xác định dựa trên việc theo dõi quá trình oxy hóa của cơ chất ABTS ở bước sóng 420 nm. Một đơn vị hoạt động của enzyme được định nghĩa là lượng enzyme xúc tác quá trình oxy hóa 1 mM ABTS mỗi phút trong một phản ứng (Tian et al., 2014).

3.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quá Trình Tổng Hợp Enzyme

Enzyme được ly tâm 13.000 vòng/phút ở 4°C trong 10 phút, thu dịch nổi enzyme. Cho 50 µL enzyme đã được ủ với 1,6 mM ABTS vào trong 1 mL dung dịch đệm sodium acetat 100 mM, pH 3,6. Phản ứng được tiến hành ở 50°C trong 10 phút. Sau đó đo độ hấp thụ quang ở 420 nm (ε420 = 36,0 mM/cm) bằng máy đo quang phổ (Tian et al.).

IV. Khảo Sát Hoạt Tính Laccase pH Nhiệt Độ Ion Kim Loại

Để khảo sát ảnh hưởng của pH lên enzyme và xác định pH tối ưu của enzyme từ chủng nấm nghiên cứu, tiến hành ủ dịch enzyme với ABTS được pha trong các đệm có pH thay đổi từ 2,5 - 9. Để khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ lên enzyme cũng như xác định nhiệt độ tối ưu của enzyme từ chủng nấm nghiên cứu, dịch enzyme được ủ và kiểm tra hoạt tính ở các nhiệt độ khác nhau. Để khỏa sát ảnh hưởng của các ion kim loại và phi kim lên enzyme từ chủng nấm nghiên cứu, dịch enzyme được ủ và kiểm tra hoạt tính với muối của các ion kim loại và phi kim

4.1. Tối Ưu Hóa Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hoạt Tính

Hai thông số động học là hằng số Michaelis Km và vận tốc phản ứng cực đại Vmax được xác định thông qua phản ứng giữa laccase và cơ chất ABTS ở các nồng độ 1 mM, 2 mM, 4mM, 6 mM, 8 mM, 10 mM và 50 mM. Hỗn hợp phản ứng bao gồm dịch enzyme, cơ chất ABTS ở các nồng độ nêu trên được ủ trong đệm có độ pH và nhiệt độ tối ưu trong 10 phút.

4.2. Thử Nghiệm Khả Năng Phân Hủy Thuốc Nhuộm và Xác Định Khối Lượng

Để khảo sát khả năng phân hủy màu của enzyme từ chủng nấm nghiên cứu, ủ dịch enzyme trong đệm có độ pH tối ưu được pha với các thuốc nhuộm khác nhau. Để xác định khối lượng protein của chủng nấm nghiên cứu, sử dụng phương pháp điện di polyacrylamide với SDS (SDS – PAGE) (Laemmli, 1970).

V. Kết Quả Tuyển Chọn Chủng Nấm Tại Đà Nẵng Huế

Từ 10 mẫu mùn cưa và nước thải thu thập từ nhiều địa điểm khác nhau tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế, sau 5 đến 8 ngày nuôi trong tủ ổn nhiệt ở 30°C trên môi trường phân lập BSM có bổ sung guaiacol (0.01%), sàng lọc được 1 chủng nấm có vùng xung quanh khuẩn lạc chuyển từ màu hồng sang màu nâu đỏ được ký hiệu HUIBF21. Chủng này sau sàng lọc được tiến hành làm thuần trên môi trường PDA, thử lại hoạt tính với cơ chất guaiacol (0.01%) và bảo quản ở -40°C. Chủng HUIBF21 có khuẩn lạc phát triển nhanh trên môi trường PDA ở 30ºC, đạt đường kính 8,5 cm sau 4 ngày nuôi cấy. Khuẩn lạc có màu trắng.

5.1. Định Danh Chủng Nấm Trametes polyzona HUIBF21

Kết quả BLAST trên cơ sở dữ liệu của ngân hàng gene NCBI cho thấy các trình tự ITS của HUIBF21 tương đồng 99,66 % với trình tự ITS của loài Trametes polyzona BPSM12 (Mã số: KJ865842.1). Kết quả này có thể khẳng định chủng HUIBF21 là loài Trametes polyzona HUIBF21 (T.polyzona HUIBF21).

5.2. Đường Cong Sinh Trưởng và Tích Lũy Enzyme Ngoại Bào

Chủng T.polyzona HUIBF21 có pha thích nghi kéo dài trong 6 ngày đầu nuôi cấy, lúc này chủng sinh trưởng chậm, trọng lượng khô xác định được trong 6 ngày đầu có tăng nhưng tăng chậm, dao động trong khoảng 50 – 55 mg. Pha tăng trưởng bắt đầu từ ngày thứ 7 và kéo dài trong 6 ngày. Lúc này quá trình sinh trưởng của chủng nấm tăng rất mạnh, trọng lượng khô tăng gần gấp 2 so với những ngày đầu, và đạt trọng lượng khô cao nhất vào ngày thứ 12 là 190,92 mg.

VI. Ứng Dụng Thực Tiễn Chủng Nấm Mới Xử Lý Môi Trường

Dịch enzyme thu từ chủng nấm T.polyzona HUIBF21 được ứng dụng trong việc phân hủy màu thuốc nhuộm thuộc nhóm azo, anthraquinon, tricrymethano, chất chỉ thị màu và muối hữu cơ được tìm thấy nhiều trong các phòng nghiên cứu và nước thải khu công nghiệp như nhà máy dệt nhuộm,. polyzona HUIBF21 đã loại bỏ thuốc nhuộm tổng hợp ở mức độ khác nhau sau 24 giờ. Khối lượng laccase ngoại bào của chủng T. polyzona HUIBF21 được xác định thông qua điện di phân tách protein laccase ngoại bào trên gel polyacrylamide 12% kết hợp thực hiện phản ứng enzyme cơ chất ABTS. Kết quả cho thấy laccase có khối lượng phân tử khoảng 80 kDa.

6.1. Hoạt Tính Enzyme và Khả Năng Phân Hủy Thuốc Nhuộm

T.polyzona HUIBF21 có pH và nhiệt độ tối ưu là 3,5 và 50°C. Ion Cu2+ tăng hoạt tính enzyme trong khi ion Fe3+ ức chế sự hoạt động của laccase. Giá trị Km và Vmax của enzyme lần lượt là 7 mM và 5000 µM/phút. Hiệu suất khử màu thuốc nhuộm tổng hợp của enzyme sau 24 giờ tốt nhất với thuốc nhuộm Crystal Violet (75,20%), thấp nhất với Methylin Blue (9,21%).

6.2. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tiềm Năng Trong Tương Lai

Kết quả cho thấy T.polyzona HUIBF21 có tiềm năng sinh tổng hợp laccase và có thể được sử dụng trong các ứng dụng khác nhau. Nghiên cứu tối ưu sản xuất laccase của chủng T.polyzona ở quy mô phòng thí nghiệm để tăng lượng enzyme thu nhận phục vụ cho các mục đích ứng dụng khác. Thử nghiệm nhiều ứng dụng laccase từ chủng T.polyzona HUIBF21 trong điều kiện phòng thí nghiệm và ứng dụng thực tiễn như khử độc do kháng sinh,…

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay việc sử dụng enzyme trong sản xuất và đời sống ngày càng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và thực tế cho thấy chế phẩm enzyme đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước và đã mang lại lợi ích kinh tế khá lớn, đặc biệt là các enzyme có khả năng phân hủy các hợp chất thơm đa vòng. Điển hình trong số đó là enzyme laccase. Laccase thuộc nhóm polyphenol oxydase do đó có khả năng oxy hóa diphenol và các hợp chất có liên quan.

Laccase còn được biết đến như một enzyme thân thiện với môi trường do trong phản ứng laccase chỉ cần lấy oxy từ không khí và sản phẩm phụ duy nhất tạo thành sau phản ứng là nước (Riva, 2006). Laccase có thể được thu từ các nguồn khác nhau như thực vật, vi khuẩn, côn trùng và phổ biến nhất là nấm. Hiện nay nhiều chủng nấm đã được phát hiện cho thấy khả năng tổng hợp laccase rất tốt như: Rhizoctonia solani (Crowe and Olsson, 2001), Trametes versicolor (Bourbonnais et al., 1995), Melanocarpus albomyces (Kiiskinen, 2005), Trametes modesta (Nyanhongo et al. Đồng thời do nấm có khả năng sinh trưởng phát triển mạnh nên còn tạo thuận lợi rất nhiều cho việc sản xuất laccase ở quy mô lớn phục vụ trong công nghiệp.

Trong những năm gần đây, laccase được ứng dụng phổ biến trên nhiều lĩnh vực khác nhau như tẩy trắng bột giấy, tẩy màu thuốc nhuộm vải, ứng dụng trong chế biến thực phẩm thông qua việc đưa vào các quy trình xử lý sinh học (Kunamneni et al. Laccase còn được sử dụng trong tổng hợp chất hữu cơ, xử lý các nguồn nước thải bị ô nhiễm bằng việc loại bỏ các hợp chất phenol, ứng dụng trong việc xử lý phụ phẩm của sản phẩm nông nghiệp để tạo nguyên liệu cho các quá trình khác. Phổ ứng dụng của laccase được mở rộng bằng việc kết hợp laccase với các mediator -chất trung gian - làm chúng có khả năng oxy hóa những hợp chất không có bản chất phenol (non-phenol). Cùng với những ứng dụng quan trọng mà enzyme laccase mang lại đồng thời góp phần mở rộng nguồn nguyên liệu sản xuất laccase và việc sử dụng chúng trong thực tế sản xuất, đặc biệt là đối với các quá trình xử lý nước thải công nghiệp, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tuyển chọn chủng nấm sinh tổng hợp laccase tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế”.

Mục tiêu đề tài Tuyển chọn được chủng nấm có khả năng sinh tổng hợp laccase từ phụ phẩm phế thải, tạo nguồn nguyên liệu ứng dụng xử lý một số chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về chủng nấm sinh tổng hợp laccase. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu và ứng dụng chủng này để phát triển cho các nghiên cứu tiếp theo ở quy mô phòng thí nghiệm và ứng dụng trong thực tiễn. Nội dung nghiên cứu - Phân lập, tuyển chọn và định danh được chủng nấm sinh tổng hợp laccase.

- Xây dựng đường cong sinh trưởng và đường cong tích lũy enzyme của chủng nấm phân lập được. - Khảo sát một số đặc điểm và động học enzyme ngoại bào. - Khảo sát khả năng phân hủy một số thuốc nhuộm tổng hợp của enzyme ở quy mô phòng thí nghiệm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.2) thuộc nhóm enzyme oxidase, cụ thể là polyphenol oxidase.

Trong phân tử có chứa 4 nguyên tử đồng có khả năng oxy hóa cơ chất sử dụng phân tử oxy làm chất nhận điện tử. Phổ cơ chất của laccase rất đa dạng bao gồm: diphenol, polyphenol, các dẫn xuất phenol, diamine, amine thơm, benzenethiol, dioxin và cả các hợp chất vô cơ như iot. Các loại enzyme laccase tách chiết từ các nguồn khác nhau rất khác nhau về mức độ glycosyl hóa, khối lượng phân tử và tính chất động học (Kiiskinen, 2005). Cấu tạo của laccase a.

Khối lượng phân tử Phân tử laccase thường là monomeric protein, chỉ một số là oligomeric protein, có khối lượng phân tử dao động trong khoảng 60 – 90 kDa. Phần lớn laccase của nấm có bản chất là glycoprotein với hàm lượng carbonhydrate chiếm khoảng 10 – 25% (Piontek et al. Có nhiều công bố chỉ ra rằng mỗi loài nấm mốc riêng biệt có thể cho nhiều loại isozyme (bảng 1. Sự thay đổi điều kiện trong quá trình nuôi cấy sinh tổng hợp laccase có thể cho những isozyme khác nhau của cùng một chủng nấm (Bollag and Leonowicz, 1984).

Khối lượng phân tử và số lượng isozym laccase từ một số chủng nấm (Bar, 2001). Chủng Số lượng Khối lượng Tài liệu tham khảo izozyme phân tử (kDa) Podospora anserina 3 70/80/390 Thurston, 1994 Neurospora crassa 1 65 Germann et al, 1988 Agaricus bisporus 2 65/100 Perry et al, 1993 Botrytis cinerea 2 72 Thurston, 1994 Phlebia radiata 1 64 Saloheimo et al, 1991 Armillaria mellea 1 80 Curir et al, 1997 Monocillium indicum 1 72 Thakker et al, 1992 3 Pleurotus ostreatus 3 54/59/57 Palmieri et al, 1997 Phanerochaete flavidoalbans 1 94 Perez et al, 1996 Rhizoctonia solani 4 50-100 Wahleitner et al, 1996 Pleurotus ostreatus RK 36 1 67 Giardina et al, 1999 Ceriporiopsis subvermispora 2 71/68 Fukishima and Kirk, 1995 Pycnoporus cinnabarinus 1 81 Eggert et al, 1996 Coriolus hirsutus 1 80 Shin and Kim, 1998 Pycnoporus cinnabarinus 1 63 Schliephake et al, 2000 Trametes villosa 1 63 Yaver et al, 1996 Trichoderma 1 71 Assavanig et al, 1992 Marasmius quercophilus 2 Farnet et al, 2000 b. Cấu trúc không gian Tất cả laccase đều giống nhau về cấu trúc trung tâm xúc tác với 4 nguyên tử đồng. Những nguyên tử đồng này được chia thành 3 nhóm: loại 1 (T1), loại 2 (T2) và loại 3 (T3), chúng khác nhau về tính chất hấp thụ ánh sáng và thế điện tử.

Các nguyên tử đồng T1 và T2 có tính chất hấp phụ điện tử và tạo thành phổ điện tử mạnh, trong khi cặp nguyên tử đồng T3 không tạo phổ hấp thụ điện tử, và có thể được hoạt hóa khi liên kết với anion mạnh (Riva, 2006). Phân tử laccase thông thường bao gồm 3 tiểu phần (vùng) chính A, B, C có khối lượng tương đối bằng nhau, cả ba phần đều có vai trò trong quá trình xúc tác của laccase. Vị trí liên kết với cơ chất nằm ở khe giữa vùng B và C, trung tâm một nguyên tử đồng nằm ở vùng C và trung tâm ba nguyên tử đồng nằm ở bề mặt chung của vùng A và C. Trung tâm đồng một nguyên tử chỉ chứa 1 nguyên tử đồng T1, liên kết với một đoạn peptide có 2 gốc histidine và 1 gốc cystein.

Liên kết giữa nguyên tử đồng T1 với nguyên tử S của cystein là liên kết đồng hóa trị bền và hấp thụ ánh sáng ở bước sóng 600 nm, tạo cho laccase có màu xanh nước biển đặc trưng. Trung tâm đồng 3 nguyên tử có nguyên tử đồng T2 và cặp nguyên tử đồng T3. Nguyên tử đồng T2 liên kết với 2 gốc histidine bảo thủ trong khi các nguyên tử đồng T3 thì tạo liên kết với 6 gốc histidine bảo thủ (Kiiskinen, 2005) (hình 1. Cấu trúc bậc ba của laccase từ Hình 1.

Trung tâm hoạt động của laccase Melanocarpus albomyces (Puskas, 2013). Đặc tính của laccase a. Các chất cảm ứng và ức chế hoạt tính laccase Các nghiên cứu tăng khả năng tổng hợp laccase của vi sinh vật bằng các chất cảm ứng đã và đang trở thành một trong các biện pháp mang lại hiệu quả cao. Các nguồn này bao gồm các amino acid, các hợp chất thơm, các chất chiết từ thực vật và các kim loại trong đó có Cu2+ (Cavallazzi et al., 2005) Trong quá trình nuôi cấy, một số chất có ảnh hưởng kìm hãm đến hoạt tính của laccase.

Các chất ức chế của laccase thường là các ion nhỏ như azide, cyanide, fluoride. Các ion này sẽ liên kết vào trung tâm đồng 3 nguyên tử và cản trở các dòng điện tử đi đến các nguyên tử này. Ngoài ra, còn có các chất ức chế khác là ethylene diamine tetra-acetic acid (EDTA), acid béo, tropolone, acid kojic và acid coumaric, nhưng chúng chỉ có tác dụng ức chế ở nồng độ cao và các hợp chất chứa sulfhydryl như L-cystein, dithiothreitol và thioglycolic acid cũng được coi là các chất ức chế laccase (Kunamneni et al. Tính đặc hiệu cơ chất Tính đặc hiệu cơ chất của laccase thường rất thấp bởi laccase có phổ cơ chất giống với tyrosinase.

Nhưng laccase có hoạt tính ortho và para-diphenol trong khi tyrosinase chỉ có hoạt tính o-diphenol. Chính vì vậy, chỉ có tyrosinase có hoạt tính cresolase (oxy hóa L-tyrosine) và chỉ có laccase có khả năng oxy hoá syringaldazine (hình 1. Quá trình oxy hóa syringaldazine thành dạng quinone tương ứng bởi laccase (Bar, 2001). Bên cạnh đó, tính đặc hiệu cơ chất thấp còn thể hiện ở dải cơ chất rộng của laccase.

Năm 1994, Thuston cho rằng hydroquynon, catechol, guacicol và 2,6- dimethoxyphenol (DMP) đều là những cơ chất tốt cho laccase. Para-phenylenediamin là cơ chất thông dụng và syringaldazine là cơ chất duy nhất chỉ dành cho laccase vì vậy laccase có thể oxy hoá cả các polyphenol methoxy và rất nhiều các hợp chất khác. Sự phù hợp của các cơ chất đối với laccase quyết định bởi hai nhân tố chính. Thứ nhất là sự phù hợp giữa cơ chất và nguyên tử đồng T1, thứ hai là sự phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa thế oxy-hóa khử giữa cơ chất và enzyme.

Các đại lượng này phụ thuộc cấu trúc hóa học của cơ chất (Kiiskinen, 2005). Nhiệt độ và pH tối ưu Nhiệt độ bền của laccase dao động đáng kể, phụ thuộc vào nguồn gốc của vi sinh vật. Nhìn chung, laccase bền ở 30 – 50°C và nhanh chóng mất hoạt tính ở nhiệt độ trên 60°C (Kunamneni et al. Laccase bền nhiệt nhất được phân lập chủ yếu từ các loài thuộc prokaryote.

Ví dụ, thời gian bán hủy của laccase phân lập từ Streptomyces lavendulae là 100 phút ở 70°C (Suzuki et al., 2003) và của protein cotA từ loài Bacillus subtilis là 112 phút ở 80°C (Hullo et al. Thời gian bán hủy của laccase có nguồn gốc nấm thường là nhỏ hơn 1 giờ ở 70°C và dưới 10 phút ở 80°C (Rodríguez-Couto et al. Laccase hoạt động tối thích trong khoảng pH 4 – 6 đối với cơ chất phenolic. Khi tăng pH sang vùng trung tính hoặc vùng kiềm thì hoạt tính của laccase bị giảm, nguyên nhân do 6 anion nhỏ là ion hydroxide đã ức chế laccase.

Mặt khác, tăng pH còn làm giảm thế oxy hóa khử của các cơ chất phenolic do đó cơ chất phenolic dễ bị oxy hóa bởi laccase hơn. Do vậy, hoạt tính laccase ở các pH khác nhau là kết quả của hai tác dụng đối lập của pH là sự tăng chênh lệch thế oxy hóa khử laccase – cơ chất và tác dụng ức chế trung tâm đồng ba nguyên tử của ion hydroxide.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ