CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TƯỜNG CHẮN ĐẤT Tường chắ n là công trình được sử dụng khá phổ biế n trong giải pháp giữ ổ n đi ̣nh mái ta luy nền đường. Trong chương mục này, tác giả luận văn trình bày các nội dung cơ bản sau: - Khái niê ̣m cơ bản về tường chắ n và phân loại tường chắn. - Các giải pháp thiết kế sử dụng tường chắn trong phòng hộ nền đường miền núi ở khu vực Miền Trung Việt Nam. - Khái quát về tường chắn có bản giảm tải và tình hình sử dụng loại hình tường chắn có bản giảm tải trên thế giới và Việt Nam.
KHÁI NIỆM TƯỜNG CHẮN ĐẤT VÀ PHÂN LOẠI TƯỜNG CHẮN. Khái niệm tường chắ n đấ t: Tường chắ n đất được hiểu là kết cấ u công trình (bê tông, bê tông cốt thép, đá xây, thép, rọ đá, …) dùng để giữ nền đấ t đắ p hoă ̣c mái ta luy nền đường đào tránh hiện tượng mất ổn định nền đường. Trong trạng thái làm việc, tường chắn tiếp xúc với nền đất và chịu tác dụng của áp lực đất cũng như các tải trọng bên ngoài gây ra. Phân loa ̣i tường chắ n đấ t: Tùy theo mục đích sử dụng, tường chắn đất được phân loại theo các cách sau: a.
Phân loại theo độ cứng: Biến dạng của bản thân tường chắn làm thay đổi điều kiện tiếp xúc của lưng tường chắn với đất đắp sau nó, do đó làm thay đổi trị số áp lực lên tường chắn và cũng làm thay đổi hình dạng biểu đồ áp lực theo chiều cao. Đubrôva đã bằng thí nghiệm và chứng minh được biểu §-êng biÕn d¹ng §-êng ¸p lùc đồ áp lực đất lên tường chắn phụ 32 1 12 3 thuộc vào biến dạng và chuyển vị của tường. Nếu tường biến dạng nhỏ thì biểu đồ áp lực đất có dạng Hình 1.1: Phân loại tường chắn hình tam giác (đường 1), nếu tường theo độ cứng biến dạng lớn thì biểu đồ áp lực đất có dạng cong và cường độ áp lực đất phần trên tăng lên (đường 2), nếu chân tường chuyển vị về phía trước thì áp lực ở trên tăng lên (đường 3). Các dạng biến dạng và biểu đồ áp lực đất thể hiện ở hình 1.
Theo cách phân loại về độ cứng của tường, tường được phân ra thành : - Tường chắn mềm: Tường biến dạng uốn khi chịu áp lực đất, thường là tường gỗ, thép, cọc cừ. - Tường chắn cứng: Tường không có biến dạng uốn khi chịu áp lực đất mà chỉ chuyển vị tịnh tiến hoặc xoay, thường là tường bê tông, bê tông cốt, đá xây,… b. Phân loại theo nguyên tắc làm việc: Theo nguyên tắc phân loại này, tường chắn đất được phân thành các loại: - Tường trọng lực: Ổn định chung của tường và nền đất dựa trên trọng lượng bản thân tường chắn. - Tường bán trọng lực: Ổn định chung được đảm bảo không chỉ dựa vào trọng lượng bản thân tường mà còn dựa vào trọng lượng đất đắp nằm trên móng.
10 - Tường bản góc: Độ ổn định chủ yếu nhờ trọng lượng đất đắp đè lên bản móng, thông thường loại tường này làm bằng BTCT. - Tường mỏng: Độ ổn định của loại tường này được đảm bảo bằng cách chôn tường vào nền đất, để giảm chiều dài chôn tường thường dùng neo để neo vào nền đất. - Tường chắn có bản giảm tải: Ngoài các loại tường chắn được phân loại như trên, loại tường chắn tác giả đang nghiên cứu được tạm gọi là ‘‘tường chắn có bản giảm tải’’, nhờ có bản gảm tải làm giảm áp lực đất theo phương ngang lên tường và tăng áp lực theo phương đứng làm tăng khả năng ổn định của tường.2: Phân loại tường chắn theo nguyên tắc làm việc. a) Tường trọng lực, b) Tường bán trọng lực, c) Tường bản góc, d) Tường mỏng, e) Tường có bản giảm tải.
Phân loại theo vật liệu cấu thành: Theo cách phân loại này, tường chắn được phân thành các loại: - Tường chắn bằng đá hộc xây, gạch xây, tường chắn bê tông không cốt thép (các loại hình tường chắn này trong thời gian gần đây thường được sử dụng khá rộng rãi cho các dự án đi qua địa hình miền núi Việt Nam). - Tường chắn bê tông cốt thép: Thông thường có cấu tạo dạng bản góc. - Tường chắn bằng rọ đá: cấu tạo thân tường bằng các rọ đá xếp chồng lên nhau và liên kết với nhau bằng liên kết buộc. 11 - Tường chắn bằng rọ đá có neo: giống như tường chắn rọ đá, loại hình tường chắn này có neo chôn ở nền đất đắp nhằm tạo lực giữ cho tường.
- Tường chắn đất có cốt: mặt ngoài của tường là các tấm panen lắp ghép, độ ổn định chung của tường nhờ vào lực tương tác giữa cốt và nền đất, cốt thường được cấu tạo bằng lưới địa kỹ thuật cường độ cao hoặc cốt thép cường độ cao. - Tường chắn bằng cọc kháng trượt: Các cọc thường được cấu tạo bằng bê tông cốt thép dạng rỗng, độ ổn định chung của nền đường và mái ta luy nhờ vào lực ma sát và dính kết của đất và cọc. Cèt thÐp a) b) c) d) Cäc kh¸ng tr-ît T-êng cã cèt Cäc kh¸ng tr-ît Neo e) f) g) Hình 1.3: Phân loại tường chắn theo kết cấu a) Tường đá hộc xây, b) Tường bê tông, c) Tường BTCT, d) Tường chắn rọ đá, e) Tường rọ đá có neo, f) Tường có cốt, g) Tường có cọc kháng trượt. Phân loại hình thức thi công: Theo cách phân loại này, tường chắn được phân thành: - Tường chắn thi công liền khối: làm bằng bê tông, đá hộc xây, gạch xây,… Tường liền khối được thi công bằng xây hoặc đỗ tại chỗ trên hố móng.
- Tường chắn thi công lắp ghép: thông thường làm bằng cấu kiện bê tông cốt thép lắp ghép đúc sẵn, lắp ghép lại với nhau theo sơ đồ đã định. Cấu kiện đúc sẵn, là những thanh hoặc kết cấu không lớn để tiện vận chuyển và lắp ghép. CÁC GIẢI PHÁP THIẾT KẾ SỬ DỤNG TƯỜNG CHẮN TRONG PHÒNG HỘ NỀN ĐƯỜNG VÙNG NÚI MIỀN TRUNG VIỆT NAM. Sơ lược một số công trình đường qua địa hình miền núi: Trong quá trình công tác, tác giả luận văn đã tham gia thiết kế, chủ trì thiết kế, giám sát thi công và tiếp cận một số dự án xây dựng đường ô tô thuộc khu vực miền Trung Việt Nam như Quốc lộ 14B, Quốc lộ 14D, Quốc lộ 14E, Quốc lộ 24., đặc biệt là hệ thống đường Hồ Chí Minh.
Toàn bộ các dự án trên có đặc điểm tuyến đi qua khu vực địa hình miền núi và khó khăn lớn về địa hình. Quốc lộ 1: Đoạn qua các tỉnh Nam Trung bộ chủ yếu đi trong khu vực đồng bằng. Các đoạn đèo dốc xuất hiện cục bộ với chiều dài không lớn. Các đèo lớn trong đoạn này có: đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, đèo Cả.
Quốc lộ 14B: Quốc lộ 14B xuất phát từ cảng Tiên Sa - Thành phố Đà Nẵng, qua ngã ba Hoà Cầm (Km932+800/QL1), Tuý Loan, Đại Lộc, Hà Tân, Hội Khách đến Thạnh Mỹ. Riêng ở địa phận Quảng Nam tuyến dài 78km. Hơn 50% chiều dài (Km32 - Km78) tuyến qua địa hình núi cao với nhiều dốc quanh co, cây cối rậm rạp, đường xấu, dân cư thưa. Quốc lộ 14D: Quốc lộ 14D xuất phát từ bến Giằng (Km815/ QL14 cũ, nay là đường Hồ Chí Minh), kéo dài đến biên giới Việt - Lào, toàn tuyến nằm 13 trong địa phận tỉnh Quảng Nam với chiều dài 74,63km.
Phần lớn chiều dài tuyến đi trong địa hình rất phức tạp nên sụt lở xảy ra thường xuyên. Quốc lộ 14E: Quốc lộ 14E xuất phát từ Thị trấn Hà Lam - huyện Thăng Bình (Quốc lộ 1), qua huyện Hiệp Đức, và kết thúc tại Thị trấn Khâm Đức - huyện Phước Sơn (đường Hồ Chí Minh). Toàn tuyến nằm trong tỉnh Quảng Nam với tổng chiều dài 79km, trong đó đoạn từ Km53 đến cuối tuyến nằm trong khu vực địa hình đồi núi cao, taluy đào sâu đến 30~40m, nhiều khả năng sạt lở về mùa mưa lũ. Đường Hồ Chí Minh (đoạn qua tỉnh Quảng Nam): Đường Hồ Chí Minh (trước là Quốc lộ 14, đã được nâng cấp) - đoạn qua các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên - xuất phát từ cầu ĐaKrông - tỉnh Quảng Trị, qua các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Kon Tum.
Trong đó đoạn tuyến thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam gồm 2 nhánh: Nhánh phía Tây (Km426 - Km510) và nhánh phía Đông (Km218 - Km334). Với toàn bộ chiều dài tuyến thuộc vùng núi cao, khối lượng đào đắp lớn nên tuyến đường Hồ Chí Minh qua tỉnh Quảng Nam thực sự là điểm nóng về vấn đề sụt lở mái taluy nền đường. Quốc lộ 24: Quốc lộ 24 xuất phát từ Thạch Trụ - tỉnh Quảng Ngãi (Km1068 QL1) qua Ba Tơ, Gia Vực, Măng Đen đến Thị xã Kon Tum, tuyến dài 167,89km. Đoạn Ba Tơ (Km30) đến Măng Đen (Km97) dài 67km, đường qua vùng rừng núi rậm rạp, ta luy cao, vực sâu.
Thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có đèo Viôlăk (Km58 - Km69), dài 11km, dốc 10% luôn là điểm nóng sụt lở về mùa mưa lũ. Quốc lộ 19: Quốc lộ 19 xuất phát từ cảng Quy Nhơn qua Phú Tài, Ba Ghi, An Khê, Mang Giang, Pleiku, Hàm Rồng đến cửa khẩu Lệ Thanh (biên giới Việt Nam - Campuchia), tuyến dài 247 km. Đoạn qua địa phận tỉnh Bình Định với khoảng 30km đường núi, trong đó có đèo An Khê (Km 59 - Km 67), dài 8 km, dốc 8% 14 Quốc lộ 25: Quốc lộ 25 xuất phát từ Thị xã Tuy Hoà - Tỉnh Phú Yên (Km 1322/ QL1) qua Tĩnh Sơn, Cà Lúi, Phú Túc, Cheo Reo và kết thúc tại Thị trấn Chư Sê - Tỉnh Gia Lai, tuyến dài 180 km. Đoạn qua tỉnh Phú Yên (Km 0 - Km 69) có địa hình miền núi sườn dốc lớn.
Quốc lộ 26: Quốc lộ 26 xuất phát từ Thị trấn Ninh Hoà qua Dục Mỹ, đèo Phượng Hoàng, Krông Bach đến Thành phố Buôn Ma Thuột, tuyến dài 151 km. Trong đó đoạn Km80 đến Km121 có địa hình miền núi sườn dốc lớn. Tình hình áp dụng các biện pháp phòng hộ nền đường vùng núi trên các tuyến đuờng thuộc khu vực Trung bộ: 1. Tình hình áp dụng các biện pháp ổn định mái dốc nền đường: Các loại biện pháp ổn định mái dốc nền đường ở các tuyến đường vùng núi khu vực Nam Trung bộ tương đối đa dạng.
Trong đó phong phú nhất về các biện pháp ổn định mái dốc nền đường là tuyến đường Hồ Chí Minh do tuyến đường này kéo dài qua nhiều khu vực vùng núi có địa hình khó khăn hiểm trở, điều kiện địa hình và địa chất, thủy văn cũng rất đa dạng.