Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đời sống văn hóa, con người Ninh Bình Trong quá trình tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đời sống văn hóa con người Ninh Bình, bên cạnh tìm hiểu qua thực tế tác giả luận văn còn tìm hiểu qua một số tài liệu có liên quan. Về nội dung này tác giả luận văn đã sử dụng nguồn tư liệu sau: “Tài liệu giảng dạy của Đại học Hoa Lư”, “Tài liệu tuyên truyền kỷ niệm 25 năm tái lập tỉnh Ninh Bình” của thành ủy Ninh Bình, đây là những văn bản quan trọng với những thông tin đáng tin cậy, đồng thời tác giả luận văn cũng cập nhật thêm số liệu mới nhất để hoàn thiện phần trình bày này. Những điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Tỉnh Ninh Bình nằm ở vị trí ranh giới 3 khu vực địa lý: Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ, và nằm giữa 3 vùng kinh tế: vùng Hà Nội, vùng duyên hải Bắc Bộ và vùng duyên hải miền Trung.
Đây là cửa ngõ trọng tâm của nửa phía Bắc Việt Nam. (khu vực các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra), có diện tích tự nhiên là 1. Đặc điểm địa hình: Có thể nói Ninh Bình như một Việt Nam thu nhỏ bởi có đủ các miền địa hình Địa hình và được chia làm 3 vùng rõ rệt: vùng đồi núi, nửa đồi núi; vùng đồng bằng; vùng ven biển và biển. Dãy núi đá vôi ở phía Tây của tỉnh chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, bắt nguồn từ vùng rừng núi Hoà Bình chạy ra biển tạo thành vùng phù sa cổ ven chân núi.
Do quá trình tạo sơn hơn 200 triệu năm về trước, dãy núi đá vôi ở phía Tây của tỉnh có nhiều hang động đẹp như: Tam Cốc, Bích Động, Địch Lộng, Xuyên Thuỷ Động, Bàn Long, Hoa Sơn.Tiếp đó là vùng đồng chiêm trũng thuộc các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Yên Mô và một phần của huyện Hoa Lư. Toàn tỉnh có 18 km bờ biển thuộc huyện Kim Sơn, có cửa sông Đáy đổ ra biển tạo ra vùng bãi bồi, hàng năm tiển ra biển khoảng 100 - 120m. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Khí hậu: Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa khá rõ: mùa khô từ tháng 11-12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.950 mm nhưng phân bố không đều, tập trung 70% lượng mưa vào mùa hạ. Dân cư: Dân số Ninh Bình tính đến năm 2016 là 952 509 người, đại bộ phận dân cư Ninh Bình là dân tộc Kinh và có khoảng 20 000 người là đồng bào dân tộc ít người, chủ yếu là dân tộc Mường sinh sống ở một số xã miền núi huyện Nho Quan. Có hai tôn giao chính: phật giáo và công giáo. Phật giáo chiếm khoảng 5,18% và công giáo chiếm 16,3% dân số (chủ yếu ở huyện Kim Sơn) Ninh Bình là nơi những dấu tích của con người tồn tại từ hàng vạn năm trở về trước vẫn còn lưu lại; là cố đô Hoa Lư một thời sáng chói, như một minh chứng về một vùng đất cổ "địa linh, nhân kiệt".
Truyền thống, hiện đại luôn hoà quyện với nhau để làm nên một Ninh Bình giàu bản sắc văn hoá, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, là cội nguồn sức mạnh của người dân Ninh Bình trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm cũng như trong thời kỳ hội nhập và phát triển cùng đất nước. Về tài nguyên thiên nhiên, đây là mảnh đất có rất nhiều tiềm năng và thế mạnh, cụ thể: Đất đai: Ninh Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 139. Trong đó đất cho sản xuất nông nghiệp là 61. Các loại đất phù sa được bồi và phù sa không được bồi tạo điều kiện cho nuôi trồng thuỷ sản và cây công nghiệp; đất phù sa cũ chua, nghèo…thích hợp cho thâm canh lúa, hoa màu; đất feranit thích hợp phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu.
Sinh vật: Ninh Bình có thảm thực vật rừng phong phú, tập trung ở vườn Quốc gia Cúc Phương. Rừng Cúc Phương thuộc loại rừng mưa nhiệt đới điển hình với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng, phong phú về thành phần loài. Một số loài thực vật điển hình là Chò xanh, cây Lê, cây Chân chim…Động vật ở đây cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 rất phong phú. Hiện đã phát hiện 233 loài động vật có xương sống, nhiều loài chim và 24 bộ côn trùng trong số 30 bộ côn trùng thường gặp ở nước ta.
Tài nguyên khoáng sản: Ninh Bình có nhiều loại khoáng sản nhưng đáng kể nhất là đá vôi với diện tích 1,2 vạn ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối và hàng chục triệu tấn đôlômit, chất lượng tốt. Đây là nguồn nguyên liệu lớn cho sản xuất vật liệu xây dựng. Ngoài ra, đất sét phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp dùng để sản xuất gạch ngói và là nguyên liệu cho ngành đúc. Than bùn có trữ lượng 2triệu tấn/năm dùng để sản xuất phân vi sinh.
Nước suối Kênh Gà, Nước khoáng Cúc Phương cũng là những nguồn lợi lớn trong việc chữa bệnh và phát triển du lịch…[57; 1,2; 12] 1. Đặc điểm kinh tế, xã hội Những lĩnh vực kinh tế lợi thế: Trong những năm tới, các ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu tại chỗ như: Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là xi măng, đá, gạch sẽ phát triển, trở thành khâu đột phá đưa nền kinh tế Ninh Bình tăng tốc và ưu tiên hàng đầu cho ngành sản xuất xi măng. Phát triển đa dạng các ngành kinh tế thuỷ sản, trong đó nuôi thuỷ, hải sản là trọng tâm được coi là một khâu đột phá của ngành nông nghiệp và nền kinh tế của tỉnh. Với các khu du lịch và danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đặc biệt là các khu: Cố đô Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động, Bái Đính - Tràng An…là thế mạnh của tỉnh trong phát triển du lịch.
Tiềm năng du lịch: Sự kì thú của thiên nhiên với những danh lam thắng cảnh đẹp, đa dạng như: Vườn Quốc gia Cúc Phương, khu hang động Tam Cốc- Bích Động, khu Địch Lộng Vân Long, khu du lịch Tràng An - Bái Đính…cùng với tài nguyên nhân văn như: Cố đô Hoa Lư, quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Non Nước, phòng tuyến Tam Điệp- Biện Sơn…tạo điều kiện cho Ninh Bình phát triển những tuyến du lịch hấp dẫn, đưa tỉnh nhà trở thành địa bàn du lịch quan trọng của vùng đồng bằng Bắc bộ và cả nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Non nước Ninh Bình kỳ thú, nên thơ, lại nằm ở cửa ngõ đồng bằng Bắc bộ và dải lãnh thổ miền Trung, nên từ xa xưa là nơi gặp gỡ giao thoa của ba nền văn hoá lớn của đất nước. Nhân dân Ninh Bình vừa tiếp thu những nét tinh hoa văn hoá của các vùng, miền khác trong nước, tạo dựng nên sắc thái văn hoá Ninh Bình phong phú đa dạng lại có những nét đặc sắc riêng biệt. Nghiên cứu và tìm hiểu về văn hoá Ninh Bình, chúng ta nhận thấy: vùng đất này có nhiều điều hấp dẫn, thú vị.
Nhiều phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của cộng đồng người Việt được con người Ninh Bình tiếp thu và sáng tạo. Mỗi ngọn núi, dòng sông, mỗi thôn xã, làng bản…đều âm vang những huyền tích, huyền thoại. Quá khứ, hiện tại, trí tưởng tượng của người lao động và hiện thực lịch sử đan xen vào nhau, tạo nên bản sử thi hùng tráng của dải đất cuối sông, đầu núi, dải đất đã được mệnh danh là “cổ họng”, là “yết hầu” của Bắc – Nam này. Đời sống văn hóa, con người Ninh Bình 1.
Ninh Bình - nơi in đậm dấu ấn văn hoá của cư dân Việt cổ Dấu vết khảo cổ học: Ninh Bình là vùng đất có con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên cạn ở Núi Ba (Tam Điệp) thuộc sơ kỳ đồ đá cũ, cách ta khoảng ba mươi vạn năm; ở Thung Lang (Tam Điệp) có niên đại cách ta khoảng ba mươi nghìn năm; động ngưòi xưa (Cúc Phương) có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá Hoà Bình cách ta khoảng 7. Di chỉ của con người văn hoá Hoà Bình còn tìm thấy ở một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan. Sau thời kỳ văn hoá Hoà Bình, các nhà khảo cổ cho rằng, vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá, Ninh Bình là nơi định cư của con ngưòi thời đại đồ đá mới Việt Nam.
Di chỉ Đồng Vườn (Yên Thành, Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng (di chỉ Gò Trũng có niên đại C14: 4700 + 50 năm cách ngày nay). Cư dân cổ di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu, cách đây 3. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ninh Bình - " văn hoá mới" của cư dân ven biển Ninh Bình là một trong những tỉnh điển hình về sự mở rộng không gian văn hoá Việt xuống biển Đông.
Trong quá trình kiến tạo địa chất, biển lùi dần tạo ra đồng bằng vùng hạ lưu sông Đáy. Con người tiến dần ra chiếm lĩnh vùng đồng bằng ven biển và tạo ra những trung tâm văn hóa như Hoa Lư, sau là kinh đô của cả nước trong 42 năm (968-1010). Vùng ven sông Vân sau là trung tâm của đạo, trấn, rồi tỉnh Ninh Bình. Dấu ấn về biển còn in đậm trên đất Ninh Bình.
Những địa danh: cửa biển Phúc Thành (thành phố Ninh Bình), cửa biển Đại An (nay là ngã ba Độc Bộ), nơi tiếp giáp giữa yên Khánh và Nghĩa Hưng (Nam Định), cửa biển Con Mèo (Yên Thành, Yên Mô), cửa Biển Thần Phù (Yên Lâm, Yên Mô) làm cho chúng ta có cảm tưởng một thời biển còn ở đâu đây. Cùng với các địa danh về các cửa biển là các con đê lịch sử như đê Hồng Đức (1471), đê Hồng Lĩnh (1773) do Nguyễn Nghiễm - thân phụ Nguyễn Du đắp, đê Đường Quan(1830), đê Hồng Ân (1899), đê Hoàng Trực (1927), đê Văn Hải (1933-1934), đê Bình Minh I (1959-1960), đê Bình Minh II (1981). Cho đến nay, Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100m.