phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn đƣợc cấu trúc làm 3 chƣơng Chƣơng 1: Khái quát về vùng đất Quang Thiện Chƣơng 2: Di sản văn hóa vật thể Chƣơng 3: Di sản văn hóa phi vật thể 9 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT QUANG THIỆN 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Quang Thiện là một trong 25 xã của huyện Kim Sơn. Huyện đƣợc thành lập bởi Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ trong công cuộc khai hoang lấn biển cách đây 2 thế kỷ. Huyện Kim Sơn nằm ở phía Đông Nam tỉnh Ninh Bình, có diện tích đất tự nhiên là 213,27 km2, dân số trên 180.
Phía Bắc giáp huyện Yên Khánh, huyện Yên Mô; phía Đông giáp huyện Nghĩa Hƣng (Nam Định); phía Tây giáp huyện Nga Sơn (Thanh Hóa); phía Nam giáp biển Đông [57]. Quang Thiện nằm cách thành phố Ninh Bình 24 km, cách thị trấn Phát Diệm 3 km về phía Đông. Về địa giới, xã Quang Thiện giáp xã Nhƣ Hòa ở phía Đông, xã Đồng Hƣớng phía Tây, huyện Nghĩa Hƣng (tỉnh Nam Định) về phía Nam (qua sông Đáy) và huyện Yên Khánh phía Bắc. Đƣờng quốc lộ 10 nối thị trấn Phát Diệm với thành phố Ninh Bình - trung tâm văn hóa, kinh tế và chính trị của cả tỉnh.
Tuyến đƣờng Lạc Thiện chạy dọc xã sang tỉnh Nam Định đƣợc nâng cấp thành quốc lộ 21B. Ngoài ra, hệ thống các tuyến liên thôn, liên xã, liên huyện, liên tỉnh đang đƣợc mở rộng để phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế xã hội và sinh hoạt của ngƣời dân Quang Thiện. Sông Vực chảy dọc xã, sông Ân ngang qua rất thuận tiện giao thông đƣờng thủy. Có thể nói, Quang Thiện là trung tâm địa lí của huyện Kim Sơn.
Với vị trí địa lí, giao thông tƣơng đối thuận lợi, xã Quang Thiện có điều kiện để phát triển và mở rộng giao lƣu kinh tế, văn hóa - xã hội. Điều kiện tự nhiên Địa hình Quang Thiện - Kim Sơn là vùng thuần khiết đồng bằng, địa hình tƣơng đối bằng phẳng, không có dốc núi xen kẽ. Độ cao thấp dần ra phía biển, nghiêng theo hƣớng Bắc - Nam và Đông -Tây, độ cao trung bình so với mực nƣớc biển khoảng 0,9 - 1,2m 10 Đất đai Quang Thiện nói riêng và Kim Sơn nói chung xƣa kia là bãi sa bồi. Trải qua biến thiên của lịch sử cùng với bàn tay lao động cần cù sáng tạo của con ngƣời, nơi đây đã trở thành làng mạc trù phú.
Quang Thiện có tổng diện tích tự nhiên 792,21 ha; trong đó, diện tích đất nông nghiệp 563,49 ha, đất phi nông nghiệp 213,60 ha. Đất trồng lúa 473,13 ha, đất màu 1,32 ha, đất vƣờn trong khu dân cƣ 34,94 ha, đất mặt nƣớc 10,71 ha.Thành phần lớp đất mặt từ cát pha đến đất thịt trung bình, độ mùn khá cao, các chất dinh dƣỡng trong đất phong phú, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, có thể trồng hai vụ lúa, một vụ màu trong năm. Khí hậu Cũng nhƣ các địa phƣơng khác của Kim Sơn, Quang Thiện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và thƣờng xuyên chịu ảnh hƣởng của mƣa bão. Mùa hè nóng, mƣa nhiều, có gió Tây khô nóng.
Mùa đông lạnh, ít mƣa, có sƣơng giá, sƣơng muối và gió mùa Đông Bắc. Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 6, kết thúc muộn nhất Bắc Bộ (tháng 10 hàng năm); mƣa nhiều vào tháng 7, tháng 8. Tổng lƣợng mƣa trung bình hàng năm 1.900mm, lƣợng bốc hơi trung bình/năm 22mm, lƣợng mƣa lớn nhất 457,5mm, lƣợng mƣa trung bình 270mm. Nhiệt độ trung bình/năm 23,40C (nhiệt độ cao nhất là 41,10C, thấp nhất 2.
Độ ẩm không khí trung bình 86% (độ ẩm cao nhất 91%, thấp nhất 61%). Tốc độ gió lớn nhất 4m/s, trung bình 3,5m/s. Bão thƣờng đổ bộ vào Quang Thiện từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm, bão mạnh có khi trên cấp 11 – 12 [57]. Sông ngòi Hệ thống sông ngòi huyện Kim Sơn khá dày đặc; các sông lớn gồm có: Sông Đáy, sông Càn, sông Yêm, sông Vạc, sông Ân… Liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội ở Quang Thiện có sông Vạc, sông Ân.
Sông Vạc bắt đầu từ huyện Hoa Lƣ chảy qua các huyện Yên Mô, Yên Khánh chảy vào huyện Kim Sơn, bắt đầu từ xã Yên Mật (thƣờng gọi là sông 11 Trì Chính) chảy dọc xã Quang Thiện vào sông Đáy, qua cửa Đài Giang hay còn gọi là Kim Đài đổ ra biển Đông [57]. Sông Ân (hay sông Ngang) là sông đào (năm 1829), nối sông Đáy ở phía đông với sông Càn ở phía tây. Sông có chiều dài 13,5km, chiều rộng 15m, sâu từ 2,5 đến 3m. Đây là con sông duy nhất, chảy vắt qua bãi bồi, ngang qua giữa tất cả các ấp, trại, lý giáp theo hƣớng đông tây.
Bởi thế, ngƣời dân gọi là sông Ngang. Sông Ân là con sông chính để từ đây các con sông nhỏ chảy qua từ tây bắc đổ vào sông Đáy, ra biển ở Đông Nam. Nƣớc đồng lớn, sông “nghiêng đồng” đổ nƣớc ra bể để tiêu úng. Nƣớc triều cƣờng, nƣớc sông Đáy mang phù sa, mang dinh dƣỡng vào sông Ân, ra sông Đáy mà thoát ra biển.
Nhƣ một cơ thể sống, đƣờng bộ, là bộ xƣơng, sông Ân là dộng mạch chủ, nƣớc nhƣ dòng máu cần mẫn chở phù sa theo các con sông nhỏ, kênh rạch, mƣơng máng mà nuôi dƣỡng các cánh đồng trở nên màu mỡ, tốt tƣơi, thơm hƣơng cói, óng lúa vàng, mùa màng bội thu. Những năm tháng chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, con sông Ân chứng kiến bao cuộc tiễn đƣa ngƣời ra trận, bao lời ƣớc hẹn ngày trở về nên đôi lứa, bao nỗi đau thầm lặng sục sôi, quyết liệt, ngƣời hậu phƣơng, ngƣời tiền tuyến; bao chiến tích đánh Pháp diệt tề, bắn rơi phản lực Mỹ ngay tại quê hƣơng. Những ngày gian khổ lùi xa, ngƣời đi bình an trở về, nƣớc sông đỏ lựng phù sa, ngƣời trí dũng trở về lại ra khơi đánh bắt cá, lại quai đê lấn biển, lại khai hoang thuần đất, nối chí cha anh xây dựng vùng kinh tế mới, quy tụ nên thị tứ, thị trấn. Ngƣời Kim Sơn sống bám theo con sông Ân đã trở thành “thị dân” với những đình đền thờ thần, chùa thờ Phật, miếu phủ Mẫu, nhà thờ họ, nhà thờ xứ thánh đƣờng của Đức Chúa Trời, để giáo dân “ kính chúa yêu nƣớc” nhƣng vẫn đậm đà thuần phác ngƣời quê.
Sông Ân vẫn thuyền bè xuôi ngƣợc, lúa cói nhiều, ngon và bền đẹp, con ngƣời tự vƣơn mình đủ tầm thao lƣợc, sự uyên bác để phát triển kinh tế trong sách lƣợc an dân, làng nghề vƣơn đến trời Tây, để Uy Viễn tƣớng công vui lòng và tự hào bởi có ngƣời kế nghiệp [22; tr. Quá trình hình thành vùng đất Quang Thiện 1.Vùng đất Quang Thiện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Công cuộc khai phá, hình thành vùng đất Quang Thiện – Kim Sơn gắn liền vai trò của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) ngƣời làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là ngƣời văn võ song toàn, làm quan trải ba đời vua triều Nguyễn (Minh Mệnh, Thiệu Trị Tự Đức). Ông có đóng góp lớn trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là công cuộc khẩn hoang mở mang ruộng đất, làng xã.
Trong những năm tháng làm quan nhiều nơi ở Bắc thành, Nguyễn Công Trứ đã hiểu đƣợc nguyên nhân sâu xa của các cuộc khởi nghĩa nông dân là nạn tham quan ô lại và nông dân không có ruộng đất. Ông dâng sớ xin đƣợc “khẩn ruộng hoang” vùng ven biển Tiền Châu (Chân Đinh) và Yên Khánh, Yên Mô (Ninh Bình) để “yên nghiệp dân nghèo”, vua Minh Mệnh chuẩn y, cử ông làm Doanh điền sứ, trực tiếp đứng ra tổ chức, chỉ huy. Khi đang quai đê Tiền Hải, (vào khảng năm 1827), ông đã cho ngƣời đến miền đất sa bồi ven biển Ninh Bình khảo sát thực tế. Sau khi tổ chức khai khẩn vùng đất Tiền Châu (Chân Đinh) thành công, nhận thấy vùng đất bồi ven biển Ninh Bình đã thành thổ màu mỡ phì nhiêu có thể cấy lúa, Nguyễn Công Trứ lại tâu lên vua Minh Mạng xin khai khẩn: “Thần trộm thấy ở các huyện Yên Khánh, Yên Mô thuộc Ninh Bình, cùng chỗ đối ngạn với huyện Nam Chân thuộc Nam Định, một dải bãi biển còn nhiều đất hoang rậm, đất cấy lúa đƣợc chẳng kém gì Tiền Hải.
Xin cho đến đo đạc để lập thành ấp lý” [59]. Trƣớc khi Nguyễn Công Trứ về đây, Kim Sơn còn là vùng đất ven biển thuộc phủ Trƣờng Yên với hơn 3.000 mẫu, cây cỏ mọc um tùm. Gia phả họ Phạm (Phạm Nhƣơng) có ghi vùng đất này hồi đó: “Phƣơng kỳ sơ lai thủy, diễm mần nhƣ lôi, lô cao mạn địa, xa lãng liên thiên”. Nghĩa là: Lúc đầu mới đến muỗi nhƣ sấm, cỏ lau, cỏ lác mọc đầy, đất sóng cát liền trời [66].
Bởi vậy, mặc dù đã có kinh nghiệm từ việc khẩn hoang ở Tiền Hải, việc khai khẩn ở Kim Sơn cũng không dễ dàng bởi vùng cửa biển này vốn có tiếng 13 là dữ dằn, gió to, sóng lớn. Cả một vùng bãi bồi sình lầy ngập nửa ngƣời, lau lách mênh mông, việc đi lại để quai đê đắp đƣờng, đào sông hết sức khó khăn. Làm việc xong, ngƣời dân phải để công cụ ngoài đồng, không thể mang về nhà. Nơi tập trung công cụ sau này gọi là làng Cáo.
Bên cạnh những trở ngại của thiên nhiên, lúc mới đến đây, dân Kim Sơn còn bị giặc biển, trộm cƣớp vào quấy rối. Nguyễn Công Trứ đã cho dựng đồn, ngày đêm có ngƣời canh gác để kịp báo cho dân làng khi có dấu hiệu cƣớp phá. Vì thế, đến nay, dân ở đây còn truyền lại câu ca “Lạc Thiện có chợ có đồn cầm canh” [66]. Nguyễn Công Trứ thể hiện một khả năng đặc biệt trong quy hoạch, xây dựng các công trình thủy lợi.
Ông vận dụng phƣơng pháp quy hoạch theo lối tỉnh điền. Trƣớc hết, ông đã cho đào sông Ân nối sông Vạc với sông Cản để lấy nƣớc ngọt [67]. Từ sông Ân, Nguyễn Công Trứ cho đào kênh tƣới nƣớc cho tất cả các lý, ấp, trại; cứ mỗi làng lớn hoặc hai làng nhỏ lại có một con sông chạy dọc theo chiều dài của làng để thau chua rửa mặn và tiêu úng. Nhờ đó, diện tích đất đƣợc khai thác tối đa, đƣa vào sử dụng.
Các sông, mƣơng chạy dọc theo làng, ấp cùng các mƣơng nhỏ dẫn nƣớc vào đồng ruộng tạo thành hệ thống tƣới tiêu tự chảy hết sức hiệu quả. Hệ thống sông ngòi bao quanh cũng là ranh giới giữa các làng, là đƣờng giao thông quan trọng, giúp cho việc đi lại, chuyên chở thóc gạo, hoa màu trở nên thuận tiện. Đất của các sông, kênh mƣơng đắp về một phía, tạo thành đƣờng bộ của làng [33; tr.