chương I, trong đó tác giả có thể tiếp cận quan niệm triết học mát xít về văn hóa để làm cơ sở lý luận của luận án. - Trong cuốn “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020 những vấn đề phương pháp luận” [37] là kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài khoa học cấp Nhà nước Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011- 2020, mã số KX04- 13/06 do tác giả làm chủ nhiệm. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, các bài viết trong cuốn sách đã phân tích, đánh gía thực trạng văn hóa Việt Nam và thực trạng lãnh đạo, quản lý văn hóa của Đảng, Nhà nước ta; chỉ rõ mối quan hệ giữa văn hóa và các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng văn hóa chính trị; đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và các giải pháp có tính chất đột phá để phát triển văn hóa dân tộc trong thập kỷ tới. Những nội dung của cuốn sách này liên quan trực tiếp đến đề tài luận án tập trung chủ yếu ở các bài viết: Khái niệm văn hóa và sự phát triển của văn hóa (GS.TS Đỗ Huy); Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (PGS.TS Phạm Đức Duy).
Tác giả luận án có thể kế thừa các nội dung sau: - Cách tiếp cận khái niệm văn hóa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt cuốn sách khẳng định phương pháp tiếp cận mácxít về văn hóa là cách tiếp 8 cận về hình thái kinh tế - xã hội, do đó: “Văn hóa gắn bó chặt chẽ với sự vận động của các phương thức sản xuất”, “nguyên tắc tiếp cận đầu tiên với văn hóa là phải tìm thấy mối quan hệ giữa tự nhiên và văn hóa” [37, tr. - Các quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam như văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đồng thời chỉ ra một trong những nhiệm vụ quan trọng là cần giữ gìn và phát huy các DSVH: DSVH là cơ sở để liên kết cộng đồng, là nền tảng để sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới, là tiền đề để mở rộng giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trên thế giới. DSVH không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của nhân dân, góp phần khẳng định niềm tự hào dân tộc mà còn là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội” [37, tr. - Cuốn “Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội” [8] đã làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tiếp thu những quan điểm mới về quản lý di sản một số nước trên thế giới để vận dụng vào công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản vật thể Thăng Long - Hà Nội; xuất phát từ thực trạng DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội làm rõ giá trị của nó trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở chỉ ra những nguy cơ, thách thức của công cuộc bảo tồn DSVH, cuốn sách đã đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản vật thể Thăng Long - Hà Nội. Sách gồm 5 chương và những nội dung của cuốn sách liên quan trực tiếp đến đề tài luận án tập trung chủ yếu ở chương 2 và chương 5. Từ kết quả nghiên cứu của cuốn sách, tác giả có thể chọn lọc, kế thừa và phát triển trong quá trình viết luận án là: - Các văn bản của Đảng ta về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH, đặc biệt một mốc đánh dấu quan trọng về định hướng của Đảng đó là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa 9 VIII) viết: “DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”. - Thông qua các nhóm giải pháp về: Nâng cao năng lực quản lý DSVH; cơ chế chính sách kinh tế - tài chính; luật pháp; huy động sự tham gia của cộng đồng; nâng cao nhận thức của người dân, cán bộ trong và ngoài ngành văn hóa, thể thao và du lịch về giá trị của di sản và việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản; xây dựng lưu trữ tài liệu, thông tin; hợp tác quốc tế… tác giả luận án có thể áp dụng vào chính thực tiễn của công tác bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH ở TTH hiện nay.
- Ở cuốn “Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội” [107], tác giả luận án có thể kế thừa có chọn lọc phần cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH như: Khái niệm văn hóa; văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể; bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể, mối quan hệ giữa DSVH vật thể và DSVH phi vật thể, quan điểm của UNESCO, Đảng và Nhà nước ta về bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể đồng thời nêu kinh nghiệm một số nước trong công tác này. Luận án quán triệt quan điểm: “Bảo tồn cần phải đi kèm với khai thác, phát huy giá trị DSVH trong đời sống…Bảo tồn cần phải quan tâm đến đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể để có những điều chỉnh phù hợp với thời đại” [107, tr. Một trong những biện pháp hữu hiệu để giữ gìn và phát huy DSVH là cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác, trách nhiệm của người dân tham gia vào công tác này. - Cuốn “Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 25 năm đổi mới (1986- 2010)” [38] là tập hợp các bài viết có chọn lọc của các chuyên gia nghiên cứu về văn hóa.
Xuất phát từ sự tiếp cận văn hóa, những yếu tốc cấu thành nền văn hóa, những tiền đề lý luận và thực tiễn hoạt động văn hóa do Đảng ta lãnh đạo, nội dung cuốn sách phản ánh thực trạng văn hóa Việt Nam qua 25 năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu quan trọng, đồng thời vạch ra những mặt yếu kém, hạn chế, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản và kiến nghị xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong những năm tiếp 10 theo vừa đáp ứng những đòi hỏi bức xúc tinh thần của xã hội ta trên con đường: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bài viết trong cuốn sách liên quan trực tiếp tới đề tài luận án: Thực trạng bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc và bài học kinh nghiệm(Th.s Vũ Công Hội), tác giả luận án kế thừa được khái niệm DSVH và vai trò của DSVH trong đời sống xã hội, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc và đặc biệt là những ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, những vấn đề đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc. - Trong cuốn “Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay” [42] đã khằng định, vấn đề bản sắc dân tộc và việc giữ gìn bản sắc dân tộc là mối quan tâm của nhiều quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Vì một trong những thách thức mà toàn cầu hóa đặt ra đối với sự phát triển của các nước là sự nhạt nhòa, mai một bản sắc dân tộc.
Đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những phương thức xử lý để không những đưa đất nước phát triển đi lên, hội nhập cùng thế giới và phát huy được sức mạnh vốn có của mình, đưa bản sắc dân tộc thành động lực nội sinh thúc đẩy dân tộc phát triển. Trong cuốn sách, tác giả khẳng định: “Dân tộc Việt Nam phải giữ gìn… bản sắc dân tộc một cách sáng tạo, linh hoạt; phải kết tinh lại và nâng lên tầm cao mới mọi đặc điểm tích cực của dân tộc và những đặc điểm tích cực mới của thế giới” [42, tr. Với cách nhìn nhận này, tác giả luận án có thể tiếp thu vào công tác giữ gìn và phát huy DSVH ở TTH, vì suy cho đến cùng, DSVH là biểu hiện rõ nét bản sắc văn hóa dân tộc. Hay nói cách khác, giữ gìn DSVH là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
- Cuốn“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam” [61] là kết quả nghiên cứu của hai tác giả tổng hợp qua các bài viết được đăng tải trên các tạp chí về lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế dưới sự chỉ đạo của Đảng: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm nhuần 11 vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Những nội dung của cuốn sách này liên quan trực tiếp trực tiếp đến đề tài luận án tập trung chủ yếu ở phần 2, gồm: - Kinh nghiệm của Trung Quốc về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa, xem “phát triển văn hóa dân tộc phải gắn với trình độ khoa học kỹ thuật” [61, tr.77], “Phải có những phương thức thích hợp trong việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc” [61, tr. - Chính sách của Canada trong việc giữ gìn di sản lịch sử- văn hóa. Theo bách khoa toàn thư Canada, “Giữ gìn di sản- đó là sự nhận thức, sự thừa nhận giá trị và bảo tồn một cách xác đáng những vật thể được coi là quan trọng đối với sự phát triển văn hóa và lịch sử của đất nước” [61, tr.
Trong các phương diện đối nội và đối ngoại của mình, Canada luôn có những chính sách phù hợp, tối ưu cho công tác giữ gìn di sản lịch sử- văn hóa.