Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn tư tưởng triết học của karl popper trong tác phẩm 8220sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử8221

Luận văn thạc sĩ phân tích tư tưởng triết học Karl Popper trong tác phẩm "Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử", khám phá các quan điểm phê phán về lý thuyết lịch sử.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tư tưởng triết học Karl Popper

Tư tưởng triết học của Karl Popper trong tác phẩm 'Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử' là một trong những đóng góp quan trọng cho triết học hiện đại. Popper phê phán chủ nghĩa lịch sử, cho rằng nó là một phương pháp nghèo nàn và không hiệu quả. Ông nhấn mạnh tư duy phản biệnnguyên tắc khoa học, đặc biệt là thuyết bất khả tri, để đánh giá tính khả thi của các lý thuyết. Popper cũng chỉ ra những hạn chế của phương pháp luận trong nghiên cứu triết học, đặc biệt là cách tiếp cận của chủ nghĩa duy lý.

1.1 Phê phán chủ nghĩa lịch sử

Popper phê phán chủ nghĩa lịch sử qua hai luận thuyết: phản tự nhiênduy tự nhiên. Ông cho rằng chủ nghĩa lịch sử không thể dự đoán chính xác sự phát triển của xã hội. Popper nhấn mạnh rằng các lý thuyết khoa học phải được kiểm chứng và bác bỏ, thay vì dựa vào các quy luật lịch sử. Điều này thể hiện rõ trong phương pháp luận của ông, nơi tư duy phản biện được coi là công cụ chính để đánh giá tính khả thi của các lý thuyết.

1.2 Nguyên tắc khoa học

Popper đề xuất nguyên tắc khoa học dựa trên thuyết bất khả tri, cho rằng không có lý thuyết nào là tuyệt đối đúng. Ông nhấn mạnh rằng các lý thuyết phải được kiểm chứng và có khả năng bị bác bỏ. Điều này đã thay đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu triết học, đặc biệt là trong việc đánh giá tính khả thi của lý thuyết. Popper cũng chỉ ra rằng chủ nghĩa duy lý cần được điều chỉnh để phù hợp với các nguyên tắc khoa học hiện đại.

II. Phân tích triết học trong Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử

Trong tác phẩm này, Karl Popper đã phân tích sâu sắc chủ nghĩa lịch sử và chỉ ra những hạn chế của nó. Ông cho rằng chủ nghĩa lịch sử không thể dự đoán chính xác sự phát triển của xã hội, và việc áp dụng nó trong nghiên cứu triết học là không hiệu quả. Popper cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tư duy phản biệnnguyên tắc khoa học trong việc đánh giá các lý thuyết.

2.1 Định nghĩa và phân loại chủ nghĩa lịch sử

Popper định nghĩa chủ nghĩa lịch sử là một phương pháp nghiên cứu dựa trên các quy luật lịch sử. Ông phân loại nó thành hai luận thuyết: phản tự nhiênduy tự nhiên. Trong luận thuyết phản tự nhiên, Popper cho rằng chủ nghĩa lịch sử không thể áp dụng các phương pháp khoa học tự nhiên vào nghiên cứu xã hội. Trong luận thuyết duy tự nhiên, ông chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp này cũng không mang lại hiệu quả.

2.2 Phê phán chủ nghĩa lịch sử

Popper phê phán chủ nghĩa lịch sử qua việc chỉ ra những hạn chế của nó trong việc dự đoán sự phát triển của xã hội. Ông cho rằng các lý thuyết dựa trên chủ nghĩa lịch sử không thể kiểm chứng và bác bỏ, điều này làm giảm tính khả thi của chúng. Popper cũng nhấn mạnh rằng tư duy phản biệnnguyên tắc khoa học là công cụ quan trọng để đánh giá các lý thuyết, thay vì dựa vào các quy luật lịch sử.

III. Đóng góp và hạn chế của tư tưởng Popper

Tư tưởng triết học của Karl Popper trong 'Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử' có nhiều đóng góp quan trọng cho triết học hiện đại, nhưng cũng có những hạn chế nhất định. Popper đã thay đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu triết học bằng cách nhấn mạnh tư duy phản biệnnguyên tắc khoa học. Tuy nhiên, việc phê phán chủ nghĩa lịch sử của ông cũng gây ra nhiều tranh cãi.

3.1 Đóng góp của tư tưởng Popper

Popper đã đóng góp lớn cho triết học hiện đại qua việc đề xuất nguyên tắc khoa họcthuyết bất khả tri. Ông nhấn mạnh rằng các lý thuyết phải được kiểm chứng và có khả năng bị bác bỏ, điều này đã thay đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu triết học. Popper cũng chỉ ra những hạn chế của chủ nghĩa lịch sử, giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn khách quan hơn về phương pháp này.

3.2 Hạn chế của tư tưởng Popper

Mặc dù có nhiều đóng góp, tư tưởng triết học của Popper cũng có những hạn chế. Việc phê phán chủ nghĩa lịch sử của ông đã gây ra nhiều tranh cãi, đặc biệt là trong việc đánh giá các lý thuyết dựa trên quy luật lịch sử. Ngoài ra, thuyết bất khả tri của Popper cũng bị chỉ trích vì quá cực đoan, làm giảm tính khả thi của các lý thuyết khoa học.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn tư tưởng triết học của karl popper trong tác phẩm 8220sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử8221

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 DIEU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐÈ LÝ LUẬN CỦA SỰ RA ĐỜI TÁC PHÁM “SỰ NGHÈO NÀN CỦA CHỦ NGHĨA LỊCH SỬ” CỦA KARL POPPER 1. BÓI CẢNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA SỰ RA ĐỜI TU TUONG TRIET HQC CUA KARL POPPER TRONG TAC PHAM “SỰ NGHEO NAN CUA CHU NGHIA LICH SU” 1. Tình hình kinh tế Vào cuối năm 1929 đầu 1933, cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nỗ ở Mỹ và lan rộng ra hầu hết các nước Tư bản, chấm dứt thời kỳ ôn định của. chủ nghĩa tư bản trong những năm 20 của thế kỷ XX.

Nguyên nhân chính của khủng hoảng chủ yếu là do sự tăng lên quá nhanh của quá trình sản xuất trong một thời gian dài, nhưng trong thời điểm đó cầu thị trường lại không, tăng làm cho hàng hóa ngày càng giảm và dần trở nên thừa dẫn đến suy thoái trong sản xuất. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra khắp mọi nơi trong thể giới tư bản chủ nghĩa, nhưng ở các quốc gia khác nhau lại có mức độ và thời gian diễn ra khủng hoảng có sự khác nhau. Sau cuộc suy thoái ở Mỹ đó là sự suy. thoái hết sức nặng nễ ở Đức.

Cuộc khủng hoảng này không chỉ tàn phá nặng nề về kinh tế và còn gây ra nhiều hậu quả lớn về chính trị và xã hội cho chủ nghĩa tư bản. Trong cuộc khủng hoảng 1929 - 1933, đã làm cho số công nhân thất nghiệp tăng lên đến 50 triệu người, hàng triệu người mắt nhà cửa, hàng triệu dân bị mắt ruộng đất và sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo đói. Trong bối cảnh lịch sử đó, phong trào công nhân thế giới có nhiều chuyển biến mới, từ thoái trào chuyển thành cao trào, biểu tình, bãi công diễn ra khắp nơi. Sự phát triển không đồng đều và sự khác nhau về hình thức thống trị của các nước tư bản đã hình thành.

Các nước không có hoặc thiếu thuộc địa ngày càng thiếu vốn, nguyên liệu và thị trường đã đi theo con đường phát xít hóa về chế độ chính trị nhằm cứu van tinh trang khủng hoảng dang diễn ra nghiêm trọng. Các nước như Đức, Ý và Nhật Bản là điển hình cho xu. Quan hệ quốc tế vào những năm 30 chuyển biến ngày càng phức tạp, sự hình thành hai khối đối lập báo hiệu cho một cuộc chiến tranh thể giới không thể tránh khỏi. Tại Áo, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng nặng, đời ng nhân dân khó khăn, túng quản.

Nhân dân ở Viên bị thất nghiệp năng nề, nhiều doanh nghiệp vừa va nhỏ phá sản. Đại đa số nhân dân sống rất nghèo khổ, cuộc sống của họ phải chịu đủ mọi sức ép, buồn thảm và chán ghét. Sự thất bại trong chiến tranh của đế quốc Áo — Hung đã tiêu tốn lên đến 543§ triệu đô la Mỹ. Nước Áo tách ra trong điều kiện kiệt quệ về kinh tế.

Tháng 3-1938, Áo bị phát xít Đức chiếm đóng. Từ năm 1945 đến năm 1955, Áo bị quân Đồng minh chiếm đóng. Tháng 5-1955, đại diện các chính phủ Liên Xô, Anh, Mỹ và Áo kí hiệp ước tại Viên về việc khôi phục nền độc lập và dân chủ của Áo. Tháng 10-1955, Quốc hội Áo thông qua đạo luật khăng định nền trung lập vĩnh viễn của Áo.

Cuối năm 1955, quân Đồng minh rút khỏi Áo. Popper và vợ đã rời Viên đi Lonđon và sau đó đi tàu đến New Zealand. Từ đây cuộc đời và sự nghiệp của K. Popper da chuyển sang một trang mới.

Cuộc sống và công việc tại New Zealand thật tuyệt vời. Một miền đất mà người dân luôn niềm nở và hiếu khách, sống rất hiền hỏa, cuộc sống thật sự mang lại cho K. Popper một cảm giác thanh bình. Ngược lại ở Châu Âu lại đang ngập chìm trong khói lửa chiến tranh.

Popper vira dạy học và vừa nghiên cứu triết học, ông trình bày 10 các học thuyết của mình, khi chiến tranh kết thúc ông mới rời New Zealand và đến dạy học ở Lonđon. Cũng trong thời gian này, K. Popper đã hoàn thành hai tác phẩm: “Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử” và *Xã hội mở và kẻ thù của nó”. Các tác phẩm ấy, ông đã sử dụng các quan điểm và phương pháp triết học khoa học của mình vào nghiên cứu lịch sử xã hội và triết học chính trị 1.

Điều kiện chính trị - xã hội 'Vào nữa đầu thé ky XX, tình hình chính trị - xã hội tại Viên diễn biến phức tạp. Để quốc Áo - Hung có tham vọng lớn là làm chủ khu vực Balkan mặc dù nền kinh tế hết sức lạc hậu, mâu thuẫn dân tộc vô cùng phức tạp. Chính sách bành trướng Balkan của Để quốc Áo - Hung vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ của Để quốc Nga, do đó Áo - Hung thực hiện liên minh quân sự với Đề quốc Đức để chống lại Nga. Năm 1909, Đề quốc Áo - Hung thôn tính Bosnia và Herzegovina, làm cho sự đối địch giữa Áo - Hung và Serbia ngày càng gay gắt.

Ngoài ra, Đề quốc Áo - Hung còn muốn thôn tính Serbia để đoạt lấy con đường ra các biển Adhiatic, biển Agean, biến Đề quốc Áo- Hung từ đế quốc nhị nguyên trở thành đế quốc tam nguyên (tức từ một đế quốc kết hợp giữa Áo va Hungary trở thành một đế quốc kết hợp giữa Ao, Hungary va Serbia). Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Đề quốc Ao - Hung tuyên chiến với Serbia cũng như của Thế chiến thứ nhất là vụ ám sát thái tử Áo - Hung. Franz Ferdinan tai Sarajevo, Bosna. Ngày 28 tháng 6 năm 1914, khi thái tử Eranz Ferdinan tham gia buôi diễn tập của quân đội Áo - Hung tai Sarajevo thì bị một số thành viên của tổ chức đản ứay đen thực hiện kế hoạch ám sát.

Sự kiện này đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh thể giới lần thứ nhất. Tối 25 tháng 7, Serbia gửi tối hậu thư đến đại sứ Áo - Hung quyết tâm hòa giải cuộc xung đột nhưng Áo - Hung vẫn không chấp thuận và tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Serbia. Ngày 28 tháng 7, Đề quốc. Áo - Hung tuyên chiến với Serbia và chính thức tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, Đề quốc Ao - Hung cũng bùng lên làn sóng cách mạng của nhân dân. Kinh tế Áo - Hung lạc hậu. kém phát triển nên sụp đồ trong chiến tranh, ngoài mặt trận thì quân đội liên tiếp thất bại, các dân tộc nỗi lên đòi độc lập khiến Đề quốc Áo - Hung nằm trên bờ vực sụp đồ. Ngày 11 tháng I1 năm 1917, tại Viên diễn ra nhiều cuộc biểu tình của dân lao động để chào mừng thắng lợi của công nhân Sankt-Peterburg trong Cách mạng tháng Mười Nga.

Những người tham gia biểu tình đòi chính phủ Đề quốc Áo - Hung khẩn trương đàm phán với các nước tham chiến để rút khỏi chiến tranh. Các cuộc biểu tình cũng diễn ra ở nhiều thành phố khác điển hình là cuộc đình công của công nhân nhà máy thuộc khu công nghiệp Viner-Neystat vio ngày 14 tháng 11 năm 1917. Cuộc đình công đã lôi kéo công nhân nhiều xí nghiệp ở Viên tham gia. Ngày 16 tháng 11, tất cả các khu công nghiệp của Áo - Hung đều xảy ra biểu tình.

Những người bãi công đòi chính quyền phải nhanh chóng kí hiệp định hòa bình và bỏ những đòi hỏi với nước Nga Xô viết. Làn sóng cách mạng nỗ ra ở trong nước cũng ảnh hưởng trực tiếp tới binh lính ngoài mặt trận. Ngày 1 tháng 2 năm 1918 tại vùng biển Adriatic, thủy thủ của chiến hạm Đề quốc Áo - Hung tổ chức một cuộc biểu tình lớn với sự tham gia của 6000 thuỷ thủ thuộc 40 tàu chiến. Những người khởi nghĩa yêu cầu khẩn trương đàm phán hòa bình, đòi quyền tự quyết cho các dân tộc sống trên lãnh thổ Đế quốc Áo - Hung và đòi thành lập các chính phủ dân chủ Áo và Hungary.

12 Sau đó, nhiều phong trào đòi tách khỏi Đế quốc Ao - Hung của các dân tộc đã lần lượt thành công. Ngày 14 tháng 10, công nhân Tiệp Khắc tiến hành tông bãi công, kháng nghị đối với việc chính phủ đế quốc quyết định chở số than đá và lương thực tồn trữ sang Áo. Ngày 28 tháng 10, Tiệp Khắc được tuyên bố trở thành quốc gia tự trị. Ngày 29 tháng 10, đến lượt người Nam Slav sinh sống trong lãnh thô đề quốc Áo - Hung tuyên bố tách khỏi đế quốc.

Đinh điểm là sự kiện nước Cộng hòa Áo được thành lập ngày 12 tháng. 11 và khi Hungary thành lập vào ngày 16 tháng 11 năm 1918 thì Đế quốc. Áo - Hung chính thức tan rã. Tình hình chính trị tại Áo trở nên căng thẳng.

Sự ra đời của Đảng Công sản Áo (3-11-1918). diễn ra trong bối cảnh Quốc tế II bị “phá sản” do sự lũng đoạn của chủ nghĩa cơ hội xét lại và trong bối cảnh các lực lượng cánh tả của các đảng xã hội - dân chủ dưới sự lãnh đạo của V. Lênin với nòng cốt là Đảng Bôn-sê-vích Nga đang xúc tiến chuẩn bị thành lập Quốc tế Công sản (Quốc tế III). Bởi vậy, ngay khi mới ra đời, Đảng Công sản Áo đã phải tiến hành hàng loạt cuộc đầu tranh không khoan nhượng trên tat cả các lĩnh vực từ chính trị, tư tưởng đến tổ chức nhằm chống các tư tưởng cải lương, cơ hội xét lại, xây dựng một chính đảng Mácxít - Lêninnít chân chính.

Năm 1924, phái cánh tả chiếm ưu thế về chính trị, đây là giai đoạn cao trào của thời kỳ Viên Đỏ (1918 - 1934). Karl Popper da tham gia hoạt động tích cực trong các phong trảo xã hội chủ nghĩa. Nhưng từ sau khi chứng kiến sự chết chóc trong các cuộc xung đột đầy bạo lực giữa những. người cộng sản và cảnh sát Viên, ông đã rời bỏ chủ nghĩa Mác và trở thành một trong những người phê phán chủ nghĩa Mác.

Khi nước Áo và Đức sát nhập vào nhau, Karl Popper buộc phải rời khỏi Áo cùng với vợ. Ông để lại họ hàng và nhiều người sau nảy bị Đức quốc xã sát hại. Năm 1937, ông đến New Zealand và giảng dạy triết học như một giảng viên cao cấp tai Dai hoc l3 Canterbury. Trong giai đoạn từ năm 1937 đến năm 1957 ông đã tập trung, nghiên cứu nhiều lĩnh vực khoa học, xuất bản một số công trình có giá trị.

Đây cũng chính là gia doan ma Karl Popper nghiên cứu phê phán chủ nghĩa lịch sử. Tác phẩm “The Poverty of Historieism” (Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử) cũng như là “The Open Society and Its Enemies” (XA hoi mo và những kẻ thủ của nó) đã ra đời trong thời gian này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Tư tưởng triết học Karl Popper trong 'Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử'" là một nghiên cứu chuyên sâu về triết học, tập trung phân tích và phê phán chủ nghĩa lịch sử thông qua lăng kính của Karl Popper. Tác phẩm này không chỉ làm rõ những hạn chế của chủ nghĩa lịch sử mà còn đề cao tư duy phản biện và phương pháp khoa học, mang lại cho độc giả cái nhìn sâu sắc về cách tiếp cận triết học hiện đại. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến triết học, lịch sử tư tưởng, và phương pháp luận khoa học.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ đánh giá chất lượng dịch vụ kênh truyền hình QRT của đài phát thanh truyền hình Quảng Nam nghiên cứu tại thành phố Tam Kỳ Quảng Nam, một nghiên cứu ứng dụng phương pháp khoa học trong đánh giá thực tiễn. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ dạng chuẩn tắc của phương trình đạo hàm riêng tuyến tính cấp hai trên mặt phẳng cung cấp góc nhìn toán học chuyên sâu, phù hợp với những ai yêu thích tư duy logic và khoa học. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thành phần hóa học của phân đoạn dịch chiết n-hexan từ cây thài lài trắng Commelina diffusa Burm f là một nghiên cứu thực nghiệm, giúp bạn hiểu rõ hơn về phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực hóa học. Mỗi tài liệu này đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan và mở rộng kiến thức của mình.