CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC CỦA TƯ TƯỞNG THÂN DÂN Ở VIỆT NAM 1. Quan niệm về dân trong triết học Trung Hoa cổ đại 1. Khái niệm dân và tư tưởng “thân dân” Để có thể nắm bắt được đầy đủ quan niệm về dân trong triết học Trung Hoa cũng như những nội dung liên quan đến dân ở thời đại ngày nay, chúng ta cần xem xét nội hàm khái niệm Dân và tư tưởng thân dân. Dân là một khái niệm rất cơ bản trong lịch sử tư tưởng chính trị – xã hội.
Khái niệm này đã xuất hiện từ xa xưa, được sử dụng rất phổ biến trong các di sản văn thơ của ông cha ta và trong văn học dân gian qua các thời kỳ lịch sử. Nó còn được dùng thường xuyên trong ngôn ngữ hiện đại đời thường, trong báo chí và cả trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước ta hiện nay. Tuy nhiên để làm rõ được một khái niệm, nhất là một khái niệm có nội hàm rộng như khái niệm “Dân” là không hề đơn giản. Trước tiên, tác giả sử dụng cuốn từ điển Triết học và từ điển tiếng Việt là những cuốn sách không xa lạ gì với những người nghiên cứu Triết học và Khoa học xã hội để thống nhất định nghĩa về “dân”.
Trong cuốn từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân chủ biên – Nxb. Khoa học Xã hội, 1967) có trình bày cả hai khái niệm “Dân” và “Nhân dân”. Hai khái niệm này về cơ bản là giống nhau, có thể thay thế được cho nhau. Tuy vậy, chúng không phải là đồng nhất tuyệt đối và không thể thay thế cho nhau trong mọi trường hợp.
Ví dụ: không thể thay thế cụm từ “vấn đề dân cày” bằng “Vấn đề nhân dân cày”. Vì vậy cần tìm hiểu cả hai khái niệm đó. Về khái niệm “Nhân dân”, qua những định nghĩa của các tác giả các từ điển có thể rút ra mấy điểm chung về khái niệm “Nhân dân” với ý nghĩa khoa học chặt chẽ như sau: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com – Nhân dân là một khái niệm có ý nghĩa chính trị, hình thành trong xã hội đã phân chia thành giai cấp, thành các tập đoàn người có địa vị và lợi ích khác nhau. – Nhân dân không đồng nhất hoàn toàn với dân cư, Nhân dân là khối người đông đảo trong dân cư chứ không phải toàn bộ dân cư.
– Nhân dân gồm những người thuộc giai cấp và tầng lớp lao động không bóc lột, trực tiếp sản xuất ra của cải cho xã hội, có khả năng tham gia giải quyết nhiệm vụ phát triển xã hội. Còn về khái niệm “Dân”, cách nêu của mỗi cuốn từ điển lại có sự khác nhau. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân chủ biên – 1976) có nêu khái niệm dân với năm nghĩa như sau: 1. Từ dùng để gọi chung người trong một nước: như Dân Việt Nam; 2.
Quần chúng đông đảo gồm có: công nhân, nông dân, nhân dân lao động trong một nước có bóc lột; 3. Quần chúng đông đảo nói chung; 4. Công dân trong một địa phương: Dân Hà Nội; 5. Những người thuộc một tầng lớp xã hội.
Trong từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên – 1994) nêu khái niệm dân với ba nghĩa: 1. Người sống trong một khu vực địa lý hành chính, trong quan hệ với khu vực ấy. Ví dụ: Dân giàu nước mạnh; Làm dân một nước độc lập; Thành phố đông dân; 2. Người dân thuộc tầng lớp đông đảo nhất, trong quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ phận lãnh đạo hoặc quân đội.
Ví dụ: Người dân thường; tình quân dân; 3. Người cùng nghề nghiệp, hoàn cảnh… làm thành một lớp người riêng. Ví dụ: Dân thợ, dân buôn, dân ngụ cư. Nhìn chung, trong các cuốn từ điển tiếng Việt, nghĩa cơ bản của khái niệm “Dân” và “Nhân dân” là giống nhau, nhiều trường hợp có nghĩa đồng nhất, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có thể sử dụng thay thế cho nhau.
Điều đó phù hợp với thực tế trong khẩu ngữ và cả trong ngôn ngữ văn bản tiếng Việt. Từ việc phân tích các mối quan hệ, các bình diện, các khía cạnh khác nhau về Dân, ta có thể khái quát: “Dân là một khái niệm xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, dùng để chỉ những người lao động bình thường, đông đảo, không có chức quyền và tương phản với những người cầm quyền cai trị ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau trong lĩnh vực sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần của một xã hội nhất định”. Do đó, Khái niệm “Dân” mang màu sắc và ý nghĩa chính trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh được các mối quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến, tuy không còn bị xem là những công cụ lao động biết nói nhưng dân vẫn nằm trong địa vị phụ thuộc mà chế độ phong kiến Trung Quốc gọi là “thần dân”.
Thần, nghĩa đen là bề tôi, là tầng lớp quan lại phải chịu khuất phục, chịu sự chi phối của nhà vua và dĩ nhiên, theo trật tự xã hội, thần dân phải xếp dưới tầng lớp quan lại. Điều này không phải ở phương Đông mà dưới chế độ phong kiến ở các nước phương Tây, tình hình này cũng diễn ra tương tự. Thần dân, tiếng Pháp là Sujets (nghĩa đen là phụ thuộc, là phải phục tùng), tiếng Anh là Subject (là khuất phục, là bắt phải chịu), theo tiếng Nga là chịu, là bị, là ngả theo. Như vậy, dân với tư cách là thần dân là những người thuộc sở hữu của vua.
Chỉ trong xã hội hiện đại: xã hội Tư bản và xã hội Xã hội chủ nghĩa vai trò của người dân mới được nhận thức đầy đủ. Người dân được đặt trong quan hệ về mặt quyền lợi và nghĩa vụ với nhà nước. Người dân có quyền bầu cử, bầu ra những người xứng đáng vào bộ máy nhà nước, có thể đại diện cho quyền lợi của mình thì khi đó dân mới có tư cách là công dân. Từ định nghĩa về “dân” như trên, chúng ta đi vào tìm hiểu về tư tưởng “thân dân”.
Tư tưởng “thân dân” là một trong những tư tưởng lớn và quan trọng của lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc và Việt Nam, được hình thành và phát triển xuyên suốt chiều dài lịch sử của nước ta. “Thân dân” có nghĩa là gần gũi, gắn bó, quý trọng nhân dân. Nhà nước lấy dân làm gốc, phải biết tin tưởng vào 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân, dựa vào dân để xây dựng phát triển đất nước và phải biết quan tâm đến đời sống nhân dân, chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân thì mới có được sự tin tưởng và ủng hộ của nhân dân. Như vậy, “thân dân” có nghĩa là phải hiểu dân, nghe được dân nói, nói được cho dân nghe, làm được cho dân tin, là nhận biết được những nhu cầu, tình cảm, suy nghĩ, mong muốn của người dân.
Và người lãnh đạo, quản lý phải biết phát hiện và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của dân; là nhìn thấy cả cái thực tại và vạch ra được viễn cảnh (tương lai) đúng đắn cho dân phát triển; là biết chia sẻ, đồng cảm và gần gũi với cuộc sống của dân, mọi suy nghĩ và hành động đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân, phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân. Quan niệm về dân trong học thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử Mặc Tử (khoảng 478 - 392 trước Công Nguyên) là người sáng lập Mặc Gia - một trong sáu hệ phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, nổi sáng ở thời Chiến Quốc, sang đến đời Hán thì chấm dứt, nhưng đến cuối đời Minh, đầu đời Thanh lại được phục hưng. Ông là người thuộc tầng lớp bình dân, sản xuất nhỏ. Từ chỗ cảm thông và lo âu với lớp dân nghèo khốn khổ, ông chủ trương theo Hạ Lễ, kêu gọi thực hành thuyết “kiêm ái”, xem đó là phương sách cứu cánh xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu - Chiến Quốc từ hỗn loạn, suy vong đến thái bình thịnh trị.
Thuyết “kiêm ái”- chủ thuyết đạo đức cơ bản của Mặc Tử, với tư tưởng chủ đạo là khởi xướng và xây dựng tình yêu thương con người, tình đồng loại, hàm chứa những giá trị nhân bản sâu sắc, quyện bền vào tâm thức của con người từ nhiều thế hệ. Nếu như Khổng Tử chủ trương “yêu thương người thân, quý trọng người sang”, thì sự yêu thương của Mặc Tử đã vượt qua giới hạn phân chia giai cấp, phân biệt mình - người, thân - sơ, quý - tiện. Không chỉ trong tư tưởng, mà chính hành động nghĩa hiệp trong suốt cuộc đời của ông đã nói lên điều đó. Mặc Tử chủ trương một chính quyền có hiệu lực và tập trung, nhưng lại phản đối sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội.
Mặc Tử lên án “Vương công 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đại nhân” “bóc lột, sống dựa vào sức của “nông phu chức phụ” (dân lao động). Ông đòi hỏi người cầm quyền “làm điều lợi, bỏ điều hại” cho dân, phải chọn người hiền tài để làm và làm việc hình chính thực sự. Ông phản đối việc dùng người dựa vào họ hàng, dựa vào đẳng cấp. Mặc Tử tôn thờ Trời, nhấn mạnh “thiên chí”, nhưng chống lại thuyết “thiên mệnh”.
Ông nhấn mạnh dân đều là con Trời để đòi hỏi một thứ bình đẳng xã hội, một cách tuyển chọn hiền tài và một đời sống dựa vào lực của từng người. Đó là tư tưởng phản kháng truyền thống của bình dân, của những người nông phu, chức phụ. Có thể nói, “kiêm ái” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả cuộc đời và tư tưởng của Mặc Tử. Chủ thuyết “kiêm ái” đã mang trong mình những giá trị nhân bản sâu sắc, mang hoài vọng của đông đảo nhân dân tầng lớp dưới của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.
“Kiêm ái” đã lấy tình yêu thương để thức tỉnh lương tri, xoa dịu lòng người, phản đối bạo lực phi nghĩa, tranh đoạt nhau tàn khốc… Kiêm ái – tình yêu thương giữa con người, đồng loại với nhau là một chân lý trường tồn trong xã hội. Tình yêu thương con người chính là gốc rễ của đức và đức lấy đó làm kế sách lâu dài để cảm biến lòng người, thâu phục nhân tâm, hóa giải hận thù tranh đoạt nhau. Đó chính là ý nghĩa nhân bản và tiến bộ của thuyết “kiêm ái”. Tất nhiên, cả Trung Hoa cổ đại và nhân loại ngày nay đều cần đến “kiêm ái”, nhưng xét trong toàn cục lịch sử tư tưởng Trung Quốc thì vị thế Mặc học quá ư mờ nhạt là một thực tế.
Nguyên do rất đơn giản, đó là lý tưởng “kiêm ái” thiếu thuyết phục, mang tính phi giai cấp, không thiết thực.