phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chƣơng với 6 tiết 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 1.Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự tồn tại và phát triển tƣ tƣởng thân dân của Nguyễn Trãi Nhà nƣớc Phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV có những phát triển đạt tới trình độ khá cao và có những bƣớc tiến dài trong công cuộc xây dựng đất nƣớc và thịnh vƣợng trên nhiều mặt. Về kinh tế, Nhà nƣớc phong kiến lúc này đặc biệt quan tâm đến sản xuất nông nghiệp. Sức lao động của nông dân trên đồng ruộng, sức kéo trong nông nghiệp là trâu bò đã đƣợc nhà nƣớc phong kiến bảo vệ.
Chủ trƣơng khẩn hoang, xây dựng và quản lý các công trình thủy lợi để ngăn chặn lũ lụt của nhà nƣớc phong kiến đã đƣợc tầng lớp nhân dân hƣởng ứng. Nhiều đoạn đê quan trọng ở lƣu vực sông Hồng và lƣu vực sông lớn ở Bắc Bộ và Bắc trung Bộ đã đƣợc đắp và thƣờng xuyên tu bổ trong thời kỳ Lý – Trần. Nông nghiệp phát triển đã tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh sản xuất thủ công nghiệp. Cho nên ngành thủ công nghiệp dù không đƣợc nhà nƣớc Phong kiến coi trọng bằng nông nghiệp, nhƣng cũng có bƣớc tiến bộ lớn trong thời Lý – Trần.
Lúc này ở nƣớc ta, các nghề dệt lụa, nung gạch ngói, làm đồ gốm, luyện kim, đúc chuông và mỹ nghệ đều phát đạt. Hàng thủ công thời kỳ ấy đạt chất lƣợng cao. Gấm vóc có thể dùng để may lễ phục cho vua quan. Đồ gốm vừa phong phú về loại hình, vừa đẹp, vừa tinh xảo.
Sự xuất hiện một số làng thủ công và sự phân chia thành khóm phƣờng của thị dân ở Thăng Long càng chứng tỏ trình độ phát triển của thủ công ta hồi đó. Trên cơ sở những sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp dồi dào nhƣ vậy, việc trao đổi hàng hóa ở trong nƣớc và việc buôn bán với nƣớc ngoài cũng đƣợc đẩy mạnh. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quang cảnh buôn bán nhôn nhịp ở Thăng Long, ở các thị trấn và ở cảnh Vân Đồn bấy giờ cho ta thấy điều đó. Tƣơng ứng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi, các đƣờng giao thống thủy bộ, các hệ thống trạm dịch trong thời Lý – Trần cũng đƣợc mở mang thêm.
Từ Thăng Long tỏa đi các nơi có cả một hệ thống đƣờng thủy bộ nhất là trên các đƣờng sông và ven biển đã có nhiều thuyền lớn đi lại tấp nập. Có thể nói nền kinh tế của nƣớc Đại Việt đã phát triển với một sinh lực dồi dào và đạt tới trình độ khá cao trong khuôn khổ một chế độ sở hữu phong kiến đặc thù lúc bấy giờ. Từ thời Đinh cho đến giữa thời Trần, chế độ sở hữu nhà nƣớc về ruộng đất chiếm ƣu thế trong xã hội. Đại bộ phận ruộng đất trong nƣớc lúc ấy là công điền, công thổ của làng xã.
Nhƣng ruộng đất này lại thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua. Nhà vua lấy công điền, công thổ của làng xã phong cấp cho quý tộc quan lại. Bên cạnh ruộng công của làng xã còn có ruộng quốc khố của triều đình, điền trang, thái ấp của quý tộc và ruộng của nhà chùa. Ngoài ra lúc này, chế độ tƣ hữu về ruộng đất cũng đã xuất hiện và có xu thế ngày càng tăng lên vào cuối thời Trần.
Đó là ruộng đất của tiểu nông và địa chủ. Phần đất phong cấp vĩnh viễn cho quan liêu quý tộc cũng trở thành ruộng đất tƣ hữu. Thích hợp với quan hệ kinh tế nói trên, các thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần cũng có một kết cấu giai cấp tƣơng ứng. Giai cấp phong kiến thống trị trƣớc hết là tầng lớp quý tộc và quan liêu mà đại biểu là nhà vua nắm giữa mọi quyền hành ở triều đình và trong xã hội.
Tiếp đó là giai cấp địa chủ, lúc đầu số lƣợng còn ít nhƣng về sau tăng lên dần. Tăng lữ là tầng lớp xã hội đáng kể và có một lực lƣợng đông đảo từ cuối thời Bắc thuộc đến đầu thời Trần. Nhƣng chỉ có những quý tộc đi tu và tầng lớp trên trong nhà chùa mới thực sự gia nhập vào hàng ngũ giai cấp phong kiến. Nhà nƣớc phong kiến đã sử dụng tăng lữ này với tầng lớp nho sĩ mới xuất 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện đẻ duy trì sự ổn định xã hội và củng cố quyền lực của triều đình.
Còn đông đảo quần chúng nhân dân bị thống trị thì gồm có ngƣời nông dân ở lành xã lĩnh canh công điền công thổ hoặc ruộng của địa chủ. Bên cạnh đó là nông nô và nô tỳ trong các điền trang và các gia đình quý tộc. Ngoài ra cũng phải kể đến thợ thủ công và lái buôn nữa. Tất cả những giai cấp và đẳng cấp ấy đều đứng trƣớc hai nhiệm vụ dựng nƣớc và giữ nƣớc lúc đƣơng thời.
Cả hai nhiệm vụ này trƣớc hết là nhiệm vụ giữ nƣớc đã động viên tinh thần chiến đấu ngoan cƣờng của các giai cấp và các tầng lớp nhân dân trong những cuộc chiến tranh giữ nƣớc ở các thế kỷ X, XI, XIII. Quân và dân ta đã thực hiện nhiệm vụ cứu nƣớc bằng những chiến công hiển hách về mặt quân sự. Chính nhiệm vụ cứu nƣớc đã làm cho các giai cấp đối kháng trong nƣớc phải xích lại gần nhau để chiến đấu chống kẻ thù chung. Do đó mà mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến thống trị và nhân dân ta trong thời kỳ này chƣa diễn ra một cách quyết liệt và sâu sắc bằng các thế kỷ sau.
Những mâu thuẫn đó vẫn âm ỷ và cuối cùng phát triển thành cuộc khởi nghĩa của nông dân vào cuối thế kỷ XIV mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ và Trần Tề. Cùng với những bƣớc phát triển về kinh tế và chính trị, từ thế kỷ X trở đi trong điều kiện của một quốc gia phong kiến độc lập tự chủ, nền văn hóa tinh thần của nƣớc Đại Việt cũng phát triển mạnh. Nhất là khi vƣơng triều Lý đƣợc xác lập thì sự phát triển ấy đã đạt đƣợc những thành tựu rực rỡ. Mấy thế kỷ sau sự phát triển ấy vẫn tiếp tục, đặc biệt vào thời Trần sau khi nhân dân ta đã ba lần chiến thắng quân xâm lƣợc Nguyên Mông.
Ngƣời ta có thể dễ dàng nhìn thấy sự phát triển văn hóa ngay từ công việc giáo dục và thi cử. Sự xuất hiện ở thời Lý một nền giáo dục Nho học có tính chất thế tục do nhà nƣớc phong kiến quản lý khác hẳn với nền giáo dục của nhà chùa, thì điều đó có một ý nghĩa to lớn đối với sinh hoạt văn hóa và tƣ tƣởng của Đại Việt. Vì nó không những tác động trực tiếp vào sự hình thành đội ngũ tri thức dân tộc và sự tuyển lựa nhân viên cho bộ máy quan liêu, mà còn ảnh hƣởng đến thế giới quan và những quy phạm chính trị và đạo 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đức của con ngƣời. Hơn nữa nó còn dẫn đến những biến đổi trong phong cách tƣ duy, trong sáng tác văn học nghệ thuật và sáng tạo khoa học.
Trên lĩnh vực văn học, ở thời Lý nhiều áng thơ văn đã xuất hiện. Bên cạnh những bài thơ và văn bia xoay quanh các chủ đề của đạo Phật là những áng văn chính luận nổi tiếng phản ánh công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc. trong đó tiêu biểu nhất là bài Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn. Bƣớc sang thời Trần hoạt động văn học sôi nổi hơn nữa.
Lúc này lực lƣợng sáng tác ngoài các nhà sƣ còn có quý tộc và nho sĩ. Do đó, chủ đề của thơ văn thời Trần không những xoay quanh những vấn đề của đạo Phật, mà còn xoay quanh những vấn đề của đạo Nho và nhất là của đời sống hiện thực. Nhƣng nổi bật hơn cả vẫn là những áng thơ văn thể hiện chủ nghĩa yêu nƣớc và chủ nghĩa anh hùng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Không những thế văn học thời Trần còn có sự phong phú về thể loại.
Điều đáng lƣu ý là đến thời Trần chữ Nôm đƣợc vận dụng rộng rãi trong văn học. Điều đó chứng tỏ nền văn hóa tƣ tƣởng có tính chất độc lập của dân tộc ta đã phát triển tới mức vận dụng tiếng nói và ngôn ngữ dân tộc thì mới có thể vƣơn lên một cách mạnh mẽ. Chế độ phong kiến Việt Nam trong thời Lý – Trần đã tiến đến một thời kỳ thịnh trị. Nhƣng đến cuối thế kỉ XIV sang đầu thế kỉ XV đã có những biến động mạnh mẽ tác động rất lớn đến vận mệnh dân tộc.
Trong khoảng thời gian 30 năm, từ năm 1390 đến năm 1428 đã có tới ba triều đại thay thế nhau đó là nhà Trần - Hồ - Lê Sơ, cùng với đó là những cuộc kháng chiến trƣờng kì của dân tộc chống lại quân xâm lƣợc và nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống lại triều đình. Bƣớc vào nửa cuối thế kỉ XIV tình hình kinh tế - xã hội Đại Việt rơi vào tình trạng khủng hoảng. Chế độ điền trang, thái ấp mang nặng tính chất khép kín, ngày càng đè nặng lên các tầng lớp lao động trong xã hội và kìm hãm sự phát triển của sản xuất. Sự mục nát của nhà Trần đã làm cho mâu thuẫn giữa quý tộc và nô tì, nông nô vốn đã âm ỷ nay càng thêm sâu sắc.
Nhân dân ngày càng bị bần cùng hóa và bị phá sản trên quy mô lớn. Năm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1400 Hồ Quý Ly truất ngôi vua Trần tự xƣng Hoàng đế, đổi quốc hiệu Đại ngu, lập ra triều Hồ (1400 – 1407). Tình hình kinh tế - chính trị thế kỷ XV, tức cuối đời Trần chế độ điền trang và chế độ nô tỳ khủng hoảng dữ dội và cản trở nghiêm trọng sức sản xuất của xã hội. Trong lúc nền kinh tế đại điền trang của quý tộc lung lay muốn đổ thì nền kinh tế của địa chủ bình dân với chế độ mua bán ruộng đất thịnh hành ở thời Lý và thời Trần càng ngày càng phát triển.
Nền kinh tế địa chủ bình dân cũng nằm trong phạm trù nền kinh tế phong kiến nhƣ nền kinh tế đại điền trang quý tộc. Nhƣng so với nền kinh tế đại điền trang quý tộc thì nền kinh tế của địa chủ bình dân tiến bộ hơn.