Chương 1 CƠ SỞ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ PHAN BỘI CHÂU 1.1- Cơ sở hình thành tư tưởng quân sự Phan Bội Châu. Tư tưởng quân sự Phan Bội Châu không thể ra đời từ mảnh đất trống không và càng không thể nằm ngoài dòng chảy liên tục của chủ nghĩa yêu nước, truyền thống quân sự dân tộc và được hình thành, phát triển trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam và thế giới có nhiều biến chuyển sâu sắc; đồng thời phản ánh tư duy, năng lực chủ quan của Phan Bội Châu. Do đó, muốn hiểu sâu sắc tư tưởng quân sự Phan Bội Châu, cần làm rõ những cơ sở, điều kiện khách quan, chủ quan khiến cho tư tưởng quân sự của ông vừa mang dấu ấn của lịch sử truyền thống dân tộc, thời đại, vừa mang những nét riêng độc đáo.1- Thực dân Pháp xâm lược, thống trị nhân dân Việt Nam bằng bạo lực. Nếu như hồi đầu thế kỷ XIX, Việt Nam là một nước độc lập và thống nhất, thì vào những năm cuối cùng của thế kỷ đó tên nước ta đã bị mất trên bản đồ thế giới, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp.
Dựa vào sức mạnh quân sự với vũ khí trang bị hiện đại, từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp lần lượt chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ, rồi mở rộng đánh chiếm các tỉnh Trung Kỳ và Bắc Kỳ, cuối cùng gây sức ép quân sự, buộc triều đình Huế ký Hiệp ước Patơnốt (6 - 6 - 1884) công nhận nền thống trị của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Trong suốt 40 năm kể khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) chính thức công khai chiến tranh xâm lược Việt Nam (1858), đến khi thực dân Pháp cơ bản “bình định” xong Việt Nam vào năm 1896, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mọi diễn biến của tư tưởng lớn của dân tộc đều tuỳ thuộc vào nhiệm vụ bao trùm là đối phó với nạn ngoại xâm, khôi phục chủ quyền đất nước. Để nhanh chóng bình định Việt Nam, thực dân Pháp đã huy động tất cả binh lực, mở nhiều cuộc tấn công qui mô lớn hòng dập tắt phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Hàng vạn người dân Việt Nam yêu nước bị chúng bắt bớ, giam cầm, giết hại.
Không biết bao nhiêu làng xóm bị tàn phá. Trong triều đình Huế, những ông vua có tinh thần chống Pháp như Thành Thái, Duy Tâm, Hàm Nghi đều lần lượt bị bắt và đày đi an trí. Cả một phong trào rộng lớn mang tinh thần “trung quân ái quốc” của các văn thân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng ở miền Trung, khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật ở đồng bằng Bắc Bộ, với sự phối hợp với Nguyễn Quang Bích đều lần lượt bị đàn áp. Nghĩa quân Yên Thế tiêu biểu cho sức phản kháng của nông dân, nổi dậy từ năm 1884 sang đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã bị 15.000 quân Pháp - Việt, do Lê Hoan chỉ huy gây thiệt hại nặng, không còn đe doạ sự ổn định của “Nhà nước bảo hộ’’.
Sự trông chờ vào ứng cứu của nhà Thanh cũng tan vỡ sau hai lần triều đình kháng chiến cử phái bộ sang Trung Quốc cầu viện. Có thể nói, tất cả những thủ lĩnh nghĩa quân đều xứng đáng đại diện cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Họ không thiếu tâm huyết, bản lĩnh và khí phách, mong cứu giống nòi thoát khỏi nạn ngoại xâm, nhưng do thiếu sự lãnh đạo tập trung và đường lối cứu nước đúng đắn nên các phong trào yêu nước do các sĩ phu lãnh đạo không thể đi đến thắng lợi cuối cùng. Sau khi căn bản dập tắt phong trào Cần vương, hoàn thành công cuộc bình định, từ năm 1897, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa với cường độ ngày càng cao, qui mô ngày càng lớn trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và ba nước Đông Dương.
Gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa, chúng đẩy nhanh việc xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ cấu mọi mặt của một bộ máy 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cai trị thực dân trên lãnh thổ Việt Nam. Có thể nói, ngay từ khi thành lập, chính quyền thuộc địa đã mang đậm nét là một chính quyền bạo lực, biểu hiện ở thủ đoạn thâm độc “ chia để trị”, “ dùng người Việt trị người Việt”; ở sự tăng cường lực lượng quân đội, sử dụng bộ máy chính quyền quân sự để quản lý lãnh thổ, xây dựng lực lượng cảnh sát đa năng. nhằm ngăn chặn, trấn áp, dập tắt các phong trào yêu nước của nhân dân, bảo vệ lợi ích lâu dài của Pháp ở Việt Nam. Như chúng ta biết, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tính thống nhất của đất nước Việt Nam đã tạo nên sức mạnh vô địch giúp dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao thử thách ác liệt để trường tồn và phát triển.
Khi áp đặt chế độ thực dân trên đất nước ta, thực dân Pháp thi hành chính sách“ chia để trị” hết sức thâm độc hòng chia cắt đất nước, chia rẽ dân tộc, phân tán lực lượng, thủ tiêu tinh thần dân tộc và chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam. Cùng với việc đàn áp các phong trào yêu nước, bóp nghẹt mọi quyền tự do, dân chủ, chúng đặt ra ba chế độ chính trị khác nhau tương ứng với ba miền của đất nước là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ; gây chia rẽ giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số; giữa miền xuôi - miền ngược; giữa lương - giáo.; dụ dỗ những phần tử phong kiến đầu hàng để duy trì bộ máy quản lý cũ kỹ, lạc hậu ở các làng xã và bộ máy vua quan phong kiến để làm công cụ bóc lột nhân dân ta. Song song với tổ chức hành chính, chúng thiết lập bộ máy bạo lực khổng lồ với các lực lượng quân sự, cảnh sát, toà án và hệ thống nhà tù dày đặc nhằm ngăn chặn, dập tắt mọi sự phản kháng, hành động yêu nước của các tầng lớp nhân dân. Tháng 7- 1900, thực dân Pháp ra đạo luật tổ chức quân đội thuộc địa bao gồm vừa binh lính Pháp, vừa binh lính người các nước thuộc địa.
Hội đồng phòng thủ Đông Dương do Toàn quyền làm chủ tịch, có quyền huy động quân đội, lập các đạo quan binh, tuyển chọn binh lính và phân bố lực lượng. Trực tiếp điều khiển quân đội ở Đông Dương là một viên tổng chỉ huy người Pháp. Dưới 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền Tổng chỉ huy có Tổng tham mưu trưởng và các viên chỉ huy bộ binh, hải quân, pháo binh. Lực lượng vũ trang của thực dân Pháp ở Đông Dương không ngừng được tăng cường về số lượng và trang bị, vũ khí.
Các binh chủng lần lượt được thành lập: Pháo binh (1899), kị binh (1900), công binh (1903), đội cầu, thông tin, vẽ bản đồ. bổ sung thêm tướng tá, lấy binh lính bản xứ ngày một đông, tổ chức những đội quân dự bị (1898), tăng cường lính da đen Châu Phi (cuối 1900), lập phòng tuyể lính và dự trử ở Hà Nội, Sài Gòn (1901). Thực dân Pháp triệt để thực hiện chính sách“ dùng người Việt trị người Việt”, dùng binh lính thuộc địa để lấn chiếm thuộc địa và đàn áp các phong trào yêu nước. Từ năm 1904, chúng ra sắc lệnh bắt thanh niên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ từ 22 tuổi đến 28 tuổi phải thuộc diện đi lính.
Thời hạn là 5 năm, hết hạn có thể xin ở lại. Hạn tại ngũ tối đa là 20 năm. Đồng thời ban bố sắc lệnh tổ chức lực lượng quan dự bị người bản xứ ở Đông Dương. Ngoài quân đội chính qui, chúng còn tổ chức đội lính khố xanh chuyên để đàn áp các cuộc khởi nghĩa hoặc canh giữ các nhà tù, phục vụ ở các đạo quan binh.
Tại các phủ, huyện, châu còn có bọn lính cơ và lính lệ để trấn áp nhân dân. Ở các làng xã có tuần phu, một lực lượng vũ trang, dưới quyền điều khiển của trưởng tuần và lý trưởng. Quân đội Pháp ở Đông Dương chia làm 2 bộ phận, quân chính qui và quân địa phương. Quân chính qui có trách nhiệm tác chiến trên chiến trường Đông Dương và ngoài Đông Dương.
Lực lượng quân chính qui ở xứ này còn được điều động đi đàn áp cuộc nổi dậy ở xứ khác trong liên bang Đông Dương, đàn áp nhân dân các nước thuộc địa khác của thực dân Pháp hoặc đi gây các cuộc chiến tranh xâm lược mới. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1915, lo lắng trước tình hình nổi dậy ngày càng nhiều của nhân dân Việt Nam, mặc dù đã có lực lượng cảnh sát, tổng thống Pháp lại ra sắc lệnh xây dựng lực lượng cảnh sát đặc biệt cho toàn Đông Dương. Sắc lệnh qui định rõ tất cả những binh lính bản xứ tại ngũ nhưng không nằm trong lực lượng chính qui đều thuộc lực lượng cảnh sát đặc biệt, đặt dưới quyền chỉ huy của các viên quan đứng đầu các xứ. Lực lượng này được gọi là địa phương quân.
Thời bình canh giữ các công sở, các tuyến giao thông, các trại giam hoặc áp tải các chuyến hàng của nhà nước thực dân hoặc bị điều động đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Khi có chiến tranh, toàn quyền có thể chuyển từng phần hay toàn bộ lực lượng địa phương quân sang tay chính quyền quân sự, hết chiến tranh lại về chính quyền dân sự Về số lượng năm 1912 là năm chúng đã xây dựng tương đối hoàn chỉnh quân đội thuộc địa. Số lính tại ngũ toàn Đông Dương là 23. Số lính dự bị là 20.
Đi đôi với bộ máy quân sự là hệ thống pháp luật khắc nghiệt với mạng lưới nhà tù dày đặc khắp Việt Nam. Ở Nam Kỳ, sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông, thực dân Pháp đã lập nhiều toàn án quân sự đặc biệt nhằm tàn sát những người Việt Nam yêu nước. Tất cả những người Việt nam bị chúng qui là “phiến loạn” đều bị đưa ra toà án binh xét xử. Ở Trung Kỳ năm 1899, chúng lập ra các toà án hỗn hợp hàng tỉnh, dưới quyền chỉ đạo của công sứ Pháp và án sát Việt Nam để kết tội những người “phiến loạn”.
Ở Bắc Kỳ, có hai loại toà án, toà án Tây và toà án Nam. Các tỉnh đều có toà án hỗn hợp dưới quyền chỉ đạo của công sứ Pháp và án sát Việt Nam. Còn ở cấp kỳ, thì từ năm 1896, thực dân Pháp lập ra Hội đồng đề hình Hà Nội để xét xử những người Việt nam yêu nước có hành động chống Pháp ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.