Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NÔNG DÂN Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nông dân là một trong những tư tưởng quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Từ khi Đảng ra đời năm 1930 đã gắn chặt mối quan hệ với giai cấp đông nhất dân tộc – giai cấp nông dân. Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cách giải quyết mối quan hệ này phù hợp theo từng giai đoạn lịch sử với từng nhiệm vụ khác nhau. Sau đó, Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa di sản tư tưởng lý luận của Người để tiếp tục giải quyết mối quan hệ đặc biệt này trong suốt quá trình cách mạng.Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nông dân 1.Học thuyết Mác – Lênin về mối quan hệ giữa Đảng với nông dân Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), C.Ăngghen đã viết: “Tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với cách mạng tư sản, chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng.
Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp”[44,tr. Chính vì thế mà hai ông khẳng định giai cấp vô sản là “người đào huyệt” chôn chủ nghĩa tư bản. Nhưng, để hoàn thành sự nghiệp chiến thắng giai cấp tư sản “giai cấp vô sản phải thành lập một đảng độc lập của giai cấp, tách khỏi và độc lập với tất cả các đảng khác”[44,tr. Đó là vấn đề cơ bản mà như Ph.Ăngghen nói là điều mà ông và C.Mác đã đặt ta từ năm 1847.
Việc ra đời chính đảng phản ánh trình độ trưởng thành của giai cấp vô sản từ tự phát chuyển sang tự giác. Chỉ có chính đảng của giai cấp vô sản mới có thể đoàn kết, giáo dục, giác ngộ, tổ chức giai cấp mình và toàn thể quần chúng bị áp bức, bóc lột, trong đó phần lớn là nông dân đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng người lao động ra khỏi áp bức bóc lột và 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thiết lập một chế độ không có áp bức, bóc lột – chế độ cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội khoa học.Ăngghen xuất phát từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản mà nghiên cứu vấn đề nông dân. Từ sự phân tích tình hình kinh tế - chính trị của xã hội tư bản C.Ăngghen đã sớm phát hiện được sự liên minh tất yếu giữa giai cấp nông dân với giai cấp công nhân. Trước kia, trong cách mạng dân chủ tư sản, khi giai cấp tư sản còn là giai cấp đại diện cho sức sản xuất mới trong lòng xã hội phong kiến, nông dân đã đi theo và chịu sự lãnh đạo của giai cấp ấy để tiến hành đòi dân chủ và ruộng đất.
Nhưng khi đã nắm chính quyền, giai cấp tư sản liền quay trở lại đàn áp tàn khốc giai cấp công nhân và nông dân – những người đồng minh đã đem lại địa vị thống trị cho chúng. Qua nghiên cứu lịch sử phong trào nông dân, phân tích về mặt lý luận và hình thức đấu tranh giai cấp, C.Ăngghen đã đi đến kết luận về tính chất hạn chế của phong trào nông dân và triển vọng của phong vào cách mạng vô sản thế giới. Hai ông khẳng định trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, người nông dân không thể tự giải phóng mình ra khỏi áp bức bóc lột, rằng lối thoát duy nhất của họ là sự thắng lợi của cách mạng vô sản. Phân tích tình hình nước Pháp ở thể kỷ XIX, trong tác phẩm “Ngày 18 tháng sương mù của Lui-bô-na-pác”, Mác viết: “Lợi ích của nông dân không còn hòa hợp với lợi ích giai cấp tư sản, với tư bản như trước dưới thời Na-pô-lê-ông nữa, mà lại mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp tư sản của tư bản.
Vì thế, người nông dân mới thấy rằng giai cấp tư sản thành thị, giai cấp có sứ mệnh lật đổ chế độ tư sản là người bạn đồng minh, người lãnh đạo tự nhiên của mình”[46,tr. Xuất phát từ thực tế đó, tiến hành cách mạng vô sản đánh đổ chế độ tư bản, nếu không lôi kéo giai cấp nông dân về phía mình thì giai giai cấp vô sản không thể giành thắng lợi. Vào những năm 90 của thế kỷ 19, các đảng vô sản đã ra đời ở nhiều nước châu Âu. Vấn đề giành chính quyền đã trở thành nhiệm vụ không xa nữa, Ph.Ăngghen chỉ rõ muốn giành được chính quyền thì trước hết phải chuyển hoạt 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động về nông thôn, phải tranh thủ cho được nông dân, phải xây dựng thế lực của đảng chẳng những ở thành thị mà cả nông nông.Ăngghen viết trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức”: “Việc Đảng xã hội chủ nghĩa giành được chính quyền đã trở thành sự nghiệp của tương lai không xa.
Muốn giành được chính quyền, đảng ấy trước hết phải từ thành thị về nông thôn và trở thành một thế lực ở nông thôn”[47,tr.Mác hoàn toàn đồng ý với quan điểm trên của Ph. Trong thư gửi Ph.Ăngghen, ông dự đoán “Tất cả vấn đề ở Đức sẽ tùy thuộc vào khả năng ủng hộ cuộc cách mạng vô sản bằng một sự tái diễn nào đấy của cuộc chiến tranh nông dân. Trong trường hợp thì mọi việc sẽ trôi chảy”.Mác đánh giá liên minh công nông như là “bài đồng ca” trong cách mạng vô sản, một trong những yếu tố quyết định thành bại của cách mạng. Trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp” (1850), C.Mác đã viết: “Công nhân Pháp không thể tiến lên một bước nào, và cũng không thể đụng đến một sợi tóc nào của chế độ tư sản, trước khi đông đảo nhân dân đứng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, tức là nông dân và giai cấp tiểu tư sản, chưa nổi dậy chống lại chế độ tư sản, chống lại sự thống trị của tư bản, chưa bị tiến trình của cách mạng buộc phải đi theo những người vô sản như đi theo đội tiên phong của mình”[45,tr.
Thất bại của Công xã Pari (1871) đã chứng minh lời tiên đoán của C. Và từ đó ông rút ra kết luận nguyên nhân cơ bản làm cho cuộc cách mạng đó thất bại là do giai cấp vô sản Pháp chưa thực hiện được liên minh thật sự giữa giai cấp vô sản với giai cấp nông dân. Như vậy, theo Mác, liên minh công nông xuất phát từ yêu cầu của bản thân sự tồn tại và phát triển của hai giai cấp cơ bản: công nhân và nông dân, là tất yếu khách quan của cách mạng vô sản.Ăngghen chẳng những chỉ cho giai cấp vô sản thấy rõ sự cần thiết phải lôi kéo nông dân về phía mình đề giành lấy chính quyền mà còn vạch ra con đường và biện pháp đưa nông dân cùng với giai cấp công nhân tiến lên xây dựng một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhưng, sau khi hai ông qua đời, tư tưởng quan trọng này đã bị bọn cơ hội trong Quốc tế II lãng quên.
Họ phủ nhận tính chất cách mạng của giai cấp nông dân và khả năng hiện thực của liên minh công nông trong cách mạng vô sản. Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, công hiến quan trọng nhất của V.Lênin là đã đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ học thuyết Mác, chống những luận điệu của “phái hữu” và “phái giữa” trong Quốc tế II, phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, phủ nhận liên minh công nông. Lênin khẳng định rằng, trong cuộc đấu tranh chống chế độ Nga hoàng và chủ nghĩa tư bản, chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo dựa trên cơ sở liên minh công nông, cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giành được thắng lợi. Lần đầu tiên V.Lênin nêu lên tư tưởng về liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Đó là cống hiến mới của V.Lênin được thể hiện trong tác phẩm “Thế nào là bạn dân và họ đấu tranh chống những người xã hội dân chủ như thế nào?”(1894). Luận điểm của V.Lênin về bá quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cách mạng là hòn đá tảng của học thuyết về liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân. Trong nhiều tác phẩm tiếp theo, V.Lênin đã phát triển luận điểm nói trên và khẳng định giai cấp vô sản có nhiều lý do để thực hiện địa vị lãnh đạo trong liên minh công nông. Trong tác phẩm “Nhiệm vụ của những người xã hội dân chủ Nga” Lênin vạch rõ: “Chỉ có giai cấp vô sản mới có thể là chiến sĩ tiên phong đấu tranh cho tự do chính trị và cho những thể chế dân chủ, vì một là giai cấp vô sản là giai cấp phải chịu ách áp bức chính trị nặng nề hơn cả.
Hai là, chỉ có giai cấp vô sản mới có khả năng đẩy tới cùng việc dân chủ hóa chế độ chính trị và xã hội, bởi vì có dân chủ hóa được như vậy thì mới giành được chế độ đó vào tay công nhân”[34,tr. Trong tác phẩm “Chủ nghĩa cải lương trong Đảng xã hội dân chủ Nga”, Lênin khẳng định giai cấp vô sản phải lãnh đạo, nắm bá quyền lãnh đạo trong 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân để tiến hành một cuộc cách mạng dân chủ triệt để trong cuộc đấu tranh của tất cả những người lao động và bị bóc lột chống những kẻ áp bức và bóc lột. Giai cấp vô sản chỉ là cách mạng khi nào nó có ý thức về sự bá quyền lãnh đạo đó và thực hiện tư tưởng đó. Người vô sản có ý thức về nhiệm vụ ấy thì là một người nô lệ trỗi dậy chống chế độ nô lệ.
Người vô sản nào chưa có ý thức về tư tưởng bá quyền lãnh đạo của giai cấp mình, hay từ bỏ tư tưởng ấy, thì là một người nô lệ chưa hiểu địa vị nô lệ của mình; cùng lắm thì chỉ là một người nô lệ đấu tranh để cải thiện vị trí nô lệ của mình, chứ không phải để đánh đổ chế độ nô lệ”[37,tr.Lênin không chỉ bảo vệ học thuyết Mác về chuyên chính vô sản, về liên minh công nông mà còn phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới. Ông vạch ra rằng khi chủ nghĩa tư bản chuyển sản giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, thì phong trào giải phóng dân tộc sẽ trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản.