phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu nghiên cứu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương 4 tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG GIẢI THOÁT CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN 1. Một vài nét về Phật giáo và tƣ tƣởng giải thoát trong Phật giáo 1.
Một vài nét về Phật giáo a, Sự ra đời và phát triển của Phật giáo Phật giáo đã ra đời vào thế kỷ VI tr.CN ở miền Đông Bắc Ấn Độ. Người sáng lập Phật giáo là Buddha (Theo tiếng Trung Quốc Buddha nghĩa là Phật, là đấng “giác ngộ”. Buddha là một thái tử, tên Tất Đạt Đa, con trai của vua Tịnh Phạn (Suddhodana), dòng họ Sakya, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ, có kinh đô là thành Ca tì la vệ(Kapilavatha), nằm ven sông Hằng (Ganga), nay thuộc Nêpan. Đức Phật sinh ngày 8 tháng 4 khoảng năm 624 TrCN.
Khi Phật đản sinh, với những nét thiên phú đặc biệt, Đức Phật đã được một nhà hiền triết dự đoán sau này sẽ trở thành một đức vua tài ba, thống lĩnh thiên hạ, hoặc trở thành một đấng Chuyển Luân Pháp Vương, một vĩ nhân- thầy của Trời, người để giúp cứu nhân loại thoát ra khỏi sự khổ đau. Với mong muốn con trai sau này thừa kế ngai vàng, nối tiếp dòng họ Sakya hùng mạnh, vua cha đã tạo ra một cuộc sống cực kỳ sa hoa tráng lệ cho hoàng tử. Năm 19 tuổi hoàng tử Siddharta cưới vợ và có một con trai. Tuy nhiên sau những chuyến giã ngoại ngoài thành và chứng kiến những cảnh khổ bởi Sinh – Lão - Bệnh - Tử của con người, hoàng tử Siddharta đã rất buồn rầu và suy tư, mặc tưởng về cuộc đời con người.
Năm 29 tuổi, hoàng tử Siddharta đã bỏ gia đình đi tu vì muốn tìm cách giải thoát nhân loại khỏi sự khổ đau trong vòng luân hồi. Sau 6 năm đi tìm chân lý cùng lối tu tập ép xác khổ hạnh, thiền định chiêm nghiệm tâm linh, Đức Phật đã thành đạo dưới gốc cây Bồ đề khi 35 tuổi. Khi đã “giác ngộ”, Ngài lấy hiệu là Buddha(Phật). Ngài còn được người gọi là Sakyamuni (TQ- Thích Ca Mâu Ni), có nghĩa là “nhà hiền triết của xứ Sakya” và truyền bá tư tưởng Phật giáo đi khắp nơi nhằm giúp con người giác ngộ.
Sau 45 năm truyền đạo, Đức Phật đã nhập Niết bàn ở tuổi 80. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, các đệ tử của Phật đã tiếp tục phát triển tư tưởng của Phật, quy tụ và khái quát những tư tưởng của Phật trên cơ sở những bài thuyết pháp và tổ chức hội nghị kiết tập để xây dựng lên những giáo lý Phật giáo, thông qua một hệ thống các Kinh tạng, Luật, Luận, tạo nền móng vững chắc cho Đạo Phật, đưa Đạo Phật trở thành một hệ thống tôn giáo – triết học lớn, có ảnh hưởng to lớn ở Ấn Độ, và từ đó lan ra khắp các quốc gia, khu vực trên của thế giới. Khi du nhập vào các quốc gia, khu vực khác nhau, Phật giáo được chia thành nhiều tông phái với những hình thức tu tập khác nhau, trong đó có ba tông phái cơ bản là Tịnh độ tông, Mật tông, Thiền tông. Đạo Phật cũng được chia thành hai trường phái : Tiểu thừa và Đại thừa: Phái Tiểu thừa, theo Phật giáo đó là cỗ xe nhỏ, thực hiện hình thức tu tập, giải thoát theo Phật giáo nguyên thủy, mang tính cá nhân.
Phái Đại thừa, là „cỗ xe lớn‟, với lối tu tập, giải thoát mang tính đại chúng và có sự cải biến. Phái Đại thừa chủ chương cứu mình, cứu người dựa trên tư tưởng tha nhân “từ bi, cứu khổ, cứu nạn, phổ độ chúng sinh”, dưới sự tương hỗ trợ lực lẫn nhau giữa hàng ngũ tăng ni Phật tử và các tín đồ, cùng với tha lực, sự gia hộ của Phật, các thiên nhân, nhờ hình thức tu tập tụng kinh, niệm Phật, ăn chay, giữ giới. Tư tưởng Phật giáo được thể hiện trong những quan điểm về thế giới quan và nhân sinh quan. Trong đó chủ yếu đề cập tới vấn đề nhân sinh quan khi đi sâu vào lý giải về cuộc đời con người cùng những nguyên nhân nỗi khổ trong cuộc đời con người, qua đó chỉ ra con đường cách thức diệt khổ, giúp con người có được sự an lạc trong cuộc sống.
Với những tư tưởng mang đậm tính nhân văn sâu sắc, Phật giáo ngày càng phát triển và có sự ảnh hưởng lớn tới con người và các quốc gia, khu vực trên thế giới, trở thành một tôn giáo lớn của thế giới. b, Nội dung tư tưởng Phật giáo Tư tưởng của Phật giáo được thể hiện trong hệ thống kinh điển đồ sộ, gồm ba bộ phận gọi là Tripitaka (Tam tạng) bao gồm: Kinh tạng (Sutra) là những lời Đức Phật thuyết pháp được ghi chép lại Luật tạng(Vinaya) là các giới luật mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận tạng(Sastra), là các tác phẩm luận giải các vấn đề Phật giáo của các cao tăng, học giả. Về thê giới quan, Phật giáo quan niệm bản chất sự tồn tại của thế giới là “vô thường” trong sự biến chuyển liên tục, con người và vạn vật cũng thường xuyên biến đổi. Thế giới sự vật hiện tượng luôn trong một chu trình biến hóa không ngừng Sinh - Trụ - Dị - Diệt đối với các pháp hữu tình và Thành – Trụ - Hoại – Không đối với các pháp vô tình.
Phật giáo đã xây dựng nên thuyết “nhân duyên” để giải thích mối liên hệ nhân quả của thế giới tự nhiên trong sự vận động biến hóa liên tục. Nhờ có “duyên” mà cái “nhân” mới sinh ra “quả”; “quả” lại do duyên mà tạo ra “nhân” khác; “nhân” lại nhờ cái “duyên” mới sinh ra “quả” mới. Cứ như vậy, quá trình tương tác nhân – quả nối tiếp nhau vô cùng vô tận. Con người và mọi sự vật hiện tượng của thế giới vật chất đều nằm trong mối liên hệ nhân quả, nhân duyên, trong quy luật sinh tử luân hồi theo nghiệp báo cảm chiêu, tất cả đều vô thường, vô ngã và vận động biến đổi liên tục trong dòng chảy tương tục không ngừng nghỉ của vũ trụ.
Về nhân sinh quan, Phật giáo còn cho rằng con người và vạn vật đều được cấu tạo bởi các yếu tố vật chất (Sắc) và tinh thần (Danh). Danh và Sắc được chia làm 5 yếu tố (gọi là Ngũ uẩn) là: 1. Thức (ý thức, sự nhận thức) Nhưng Danh và Sắc chỉ hội tụ với nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác. Phật giáo bác bỏ Braham và Atman nhưng lại tiếp thu tư tưởng luân hồi (samsara) và nghiệp (karma) của Upanishad: mọi sự vật mất đi ở chỗ này là để sinh ra ở chỗ khác, quá trình thác sinh luân hồi đó do nghiệp chi phối theo nhân quả.
Ngay chính bản thân con người cũng nằm trong quy luật nhân quả và do nhân duyên kết hợp mà thành. Nó được cấu thành bởi hai thành phần: thể xác và tinh 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thể xác là do sự hợp thành bởi “địa - thủy - hỏa - phong – không”. Linh hồn hay tinh thần con người là sự sự hợp nhất của “Sắc, thụ, tưởng, hành, thức” dẫn tới hình thành các yếu tố thất tình lục dục “hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố” trong trạng thái tâm lý với cảm giác hạnh phúc hay đau khổ, vui, buồn, giận hờn, tức giận, ai oán, do tâm chịu tác động ngoại cảnh.
Hai thành phần ấy là kết quả của tan - hợp, hợp - tan từ Ngũ uẩn, nên nó cũng vô thường, chỉ là ảo ảnh, phù du. Với quan điểm cuộc đời con người là kiếp sống nhân sinh đầy đau khổ „đời là bể khổ‟, Đức Phật nói “Nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới, tích lại còn nhiều hơn nước ngoài bốn bể" Để lý giải cuộc đời con người và nổi khổ con người, Đức Phật đã đề ra Tứ Diệu Đế, đó là bốn chân lý tuyệt diệu về cuộc sống con người, bao gồm: Khổ Đế; Nhân Đế; Diệt Đế; Đạo Đế. Khổ đế: là các nỗi khổ của con người phải ghánh chịu. Theo quan điểm của Phật giáo, con người sinh ra đã khổ và cuộc sống con người là khổ.
Nỗi khổ của con người được tóm lược trong “bát khổ” - là 8 nỗi khổ cơ bản mà con người phải ghánh chịu. Ngoài bốn nỗi khổ theo chu kỳ của đời người là Sinh – Lão – Bệnh – Tử của quy luật tự nhiên, con người còn phải chịu thêm bốn nỗi khổ khác như: Ái thụ biệt ly: yêu thương mà chia lìa, xa cách, biệt ly. Oán tăng hội khổ: Ghét nhau mà phải sống gần nhau. Sở cầu bất đắc: mong muốn mà không đạt được.
Thụ ngũ uẩn: khổ về sự tồn tại thân tâm. Nhân Đế ( Samudaya-satya), còn gọi là Tập đế với 12 nhân duyên gây nên nỗi khổ con người. Phật giáo lý giải nguồn gốc nỗi khổ của con người xuất phát từ Vô minh là sự ngu muội, si mê, ám độn do không hiểu rõ chân lý, chấp vào danh sắc, bám chấp vào sự sống và thân xác, dẫn tới sự ham muốn dục vọng, làm khởi hành 12 nhân duyên “Duyên Hành, duyên Thức, duyên Danh – Sắc, duyên Lục nhập, duyên Xúc, duyên Thụ, duyên Ái, duyên Thủ, duyên Hữu, duyên Sinh, duyên Lão- Tử”. Khiến tạo cơ duyên cho sinh - trụ - dị - diệt, gây 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nên những nỗi khổ cho con người và khiến con người chịu khổ đau trong lục đạo luân hồi.
Để giúp chúng sinh giải thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ, Phật đã đề ra thuyết Diệt đế, Đạo đế nhằm chỉ ra cách thức, biện pháp để diệt trừ sự đau khổ của con người trên cơ sở thực hành Bát chính đạo. Diệt đế là con đường diệt trừ nỗi khổ thông qua Bát chính đạo – tức là 8 phương thức tu tập hành trì đạo đức, khai mở tâm linh để diệt khổ, đi tới sự giải thoát. Phương pháp tu tập để giải thoát ra khỏi luân hồi có nhiều cách trong đó chủ yếu dựa trên việc thực hành bát chính đạo. “Bát chánh đạo” là tám điều chân chính phù hợp với chân lý để diệt khổ, tiến tới giải thoát đạt tới Niết bàn, bước trên con đường an vui, tự tại, và đó cũng chính là phương tiện giải thoát, bao gồm: - Chính kiến: Nhận thức đúng, sáng suốt, giữ vững chủ kiến.
- Chính tư duy: là sự suy ngẫm, tư duy chân chính, đúng đắn. - Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, đúng đắn. - Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người khác.