đặt vấn đề cơ bản của Mác: phải xây dựng một xã hội dân chủ như thế nào để tự do của mỗi người ảnh hưởng tích cực đến tự do của người khác "là điều kiện của tự do cho mọi người" [44]. Aristote trong các phân tích của mình đã lần đầu tiên phân tích và chỉ ra rằng: "Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ là tự do, mỗi nền dân chủ đều coi tự do là mục đích của mình". Đối với những người dân chủ, theo Aristotle, tự do và bình đẳng là mối liên hệ không thể tách rời. Có hai chuẩn mực của tự do: (1) "Cai trị và bị cai trị trở lại", và (2) "Sống như chính mình lựa chọn".
Để đưa chuẩn mực thứ nhất thành nguyên tắc hình thành và hoạt động của nhà nước, bình đẳng là yếu tố căn bản: nếu không có sự "bình đẳng về số lượng" thì tính đa dạng của xã hội là cái không thể cai trị. "Bình đẳng về số lượng" - sự chia sẻ bình đẳng trong việc thực thi quyền cai trị thông qua nguyên tắc đa số - là một ý tưởng có tính hiện thực bởi vì: (i) việc tham gia chính trị được trả lương sao cho người tham gia không bị nghèo đi vì 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính việc tham gia đó; (ii) mọi công dân đều có quyền bầu cử bình đẳng; (iii) về nguyên tắc, mọi công dân đều có cơ hội như nhau để tham gia chính trị. Với ý nghĩa như vậy, bình đẳng là cơ sở thực tiễn của tự do, và nó cũng là cơ sở đạo lý của tự do. Sự gắn bó này với giá trị bình đẳng có thể dẫn đến sự xung đột với tự do nếu như tự do được đo lường theo chuẩn mực thứ hai là “Sống theo chính mình lựa chọn”.
Tuy nhiên, về vấn đề này, những người dân chủ cho rằng: sự lựa chọn cá nhân phải bị hạn chế vì tự do của người khác. Trong chừng mực mà mọi công dân đều có cơ hội như nhau trong việc "cai trị và bị cai trị trở lại" thì mọi nguy cơ xâm hại đến vấn đề bình đẳng có thể bị giảm thiểu, và vì vậy, cả hai chuẩn mực của tự do có thể hòa hợp với nhau. Đây chính là vấn đề mà Aristotle đặc biệt chú trọng, và chính quan điểm này có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng chính trị của thời kỳ Phục Hưng sau này - tư tưởng cho rằng con người là những động vật chính trị, chỉ có thể hoàn thiện mình trong các hoạt động vì lợi ích công cộng. Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) trong tác phẩm Khế ước xã hội đã thừa nhận trong “trạng thái tự nhiên” mọi người đều có tự do và bình đẳng.
Khi con người cố kết với nhau thành xã hội, con người bước vào “trạng thái xã hội”, bất công xuất hiện, tự do vốn có của con người bị xâm phạm. Nguyên nhân ông lý giải đó là do sự phát triển của sản xuất, của chế độ tư hữu trở thành lực thúc đẩy bất công chính trị trong các xã hội nô lệ và chuyên chế. Quan niệm về tự do của ông có những nội dung đáng chú ý sau: (1) tự do là thuộc tính bản chất của con người vì vậy “từ bỏ tự do của mình là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm người” [43,tr.59]; (2) tiêu chí quan trọng nhất của tự do là con người làm chủ lấy mình; (3) dù tự do gắn với bản chất con người, nhưng nó không phải là phẩm chất tự nhiên mà là kết quả của quá trình xã hội hóa con người; (4) tự do không do lực lượng siêu nhiên nào ban tặng mà chính con người tạo ra những tiền đề hay điều kiện để thực hiện tự do. Để tồn tại con người phải liên kết thành xã hội, gia đình chính là hình thái đầu tiên của sự liên kết này.
Do đó, Rousseau là người kêu gọi phải xóa bỏ tư hữu với tính cách là một chế độ sở hữu, một quan hệ sở hữu như là cơ sở sinh ra áp bức và bóc lột, điều mà sau này Mác và những người mácxít nói đến như là 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và nhất là chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. John Stuart Mill (1806-1873) là một trong những người đã đóng góp lớn trong lý luận dân chủ với tác phẩm Bàn về tự do (On Liberty). Ông quan niệm vấn đề quyền tự do cá nhân phải được đặt trong quan hệ của họ với cộng đồng. Ông nhấn mạnh nguyên tắc: tự do của mỗi người không được ngăn cản hay xâm phạm đến tự do của người khác, “Mỗi người cần được tự do mưu cầu hạnh phúc riêng của mình trong chừng mực ta không mưu toan xâm phạm tự do của người khác hoặc ngăn trở những nỗ lực của người khác đạt được hạnh phúc” [35].
Trong mối quan hệ giữa sự kiểm soát xã hội với tự do cá nhân ông viết: “tự do dân sự hay tự do xã hội tức là bản chất và các giới hạn của quyền lực mà xã hội có thể thực thi một cách chính đáng với cá nhân” [35, tr. Theo đó, quyền lực xã hội – quan trọng nhất là quyền lực chính trị và thể chế của nó phải bảo vệ quyền của các cá nhân được sống hạnh phúc theo ý của họ, hơn là bắt họ sống theo ý của những người xung quanh. Mác, Ăngghen, Lênin cũng đã bàn khá nhiều về dân chủ. Dân chủ mà các ông bàn đến trước hết và cuối cùng là "dân chủ" với tư cách là một giá trị xã hội, một hệ thống tổ chức quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước để thực hiện quyền con người, quyền công dân, quyền cộng đồng, quyền dân tộc, đặc biệt là quyền của giai cấp vô sản và những người lao động trong quá trình xây dựng chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội.
Trong Mười đề cương về chính quyền Xô-viết, Lê-nin nhấn mạnh: "Dân chủ là tự do, là bình đẳng, là quyết định của đa số; còn có gì cao hơn tự do, bình đẳng, quyết định của đa số nữa" [28, tr. Dân chủ nói một cách cụ thể là: 1) Bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; 2) Tự do chính trị cho mọi công dân; 3) Quyết định theo đa số của mọi công dân; 4) Quyết định bằng cách biểu quyết, đó là thực chất của dân chủ hòa bình hoặc dân chủ thuần túy v. Dân chủ không chỉ là thể chế chính trị, là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước, mà còn là giá trị tinh thần của xã hội. Dân chủ gắn liền với tự do, đoàn kết, công bằng, bình đẳng xã hội.
Muốn tạo dựng được sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, trước 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hết, phải có dân chủ. Dân chủ khẳng định quyền lực thực sự của người dân và tôn trọng dân. Xét trên phương diện giá trị, Amartya Sen cho rằng: thứ nhất, dân chủ đóng góp bằng cách làm giàu cuộc sống của công dân với việc bảo đảm có nhiều quyền tự do công dân và chính trị hơn. Như vậy, quyền chính trị và công dân là mục đích tự thân, và dân chủ mang lại những phương thức tốt nhất để đạt được mục đích này.
Thứ hai, về mặt công cụ hiệu dụng, bằng cách tạo động cơ kích thích chính trị cho một lối cầm quyền tốt đẹp và kịp thời. Hệ thống kiềm chế và đối trọng vốn cố hữu trong một hệ thống dân chủ góp phần hình thành một phương thức cầm quyền tốt. Thứ ba, về mặt xây dựng, bằng cách tạo cơ hội và ưu tiên. Đó là dựa trên định đề thứ nhất, sự thiên ái của xã hội không thể chỉ nhận biết bằng suy luận, mà phải được xác lập thông qua thảo luận của công chúng, chính quá trình dân chủ mới có khả năng nhất để rút ra, miêu tả và điều chỉnh thiên ái này.
Như vậy, các cách tiếp cận khác nhau, dù có thể dùng các tiêu chí, tên gọi khác nhau, nhưng khi nhìn nhận các quá trình dân chủ trong thực tiễn đều đặt ra các vấn đề chung nhất định. Dân chủ là giá trị xã hội, thể hiện ở trình độ đạt được về bảo đảm các quyền cơ bản của con người, tự do của công dân trong việc quyết định vận mệnh của mình và sự tham gia của họ vào đời sống xã hội. Biểu hiện trong hệ thống thể chế, thiết chế xã hội, dân chủ là hiện tượng in đậm dấu ấn chủ quan của các lực lượng, các giai cấp tham gia đời sống xã hội với những đặc trưng về hoàn cảnh sống, địa vị kinh tế - xã hội. Nhưng trước khi bị chi phối bởi tính chính trị, các quan điểm học thuật, hệ tư tưởng, dân chủ là một hệ giá trị có tính phổ biến, tính nhân loại của cuộc sống con người.2 Nan giải của vấn đề dân chủ Dân chủ, như phân tích ở trên, có rất nhiều giá trị và ưu điểm, nhưng bản thân dân chủ cũng chứa những vấn đề nan giải nhất định.
Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung làm rõ 2 vấn đề nan giải sau: 1. Nan giải thứ nhất: vấn đề chủ nghĩa đám đông - đa số thiển cận 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vì dân chủ = ý chí của đa số nên nan giải đầu tiên: “đa số thiển cận” thì quyết định theo đa số sẽ sai, thiếu tầm nhìn dài hạn. Như đã biết, nan giải lớn nhất của việc mọi quyền lực nhà nước là nếu quyền lực đủ lớn để có hiệu lực áp đặt một ý chí chung thì nó cũng đủ lớn để áp đặt ý chí và lợi ích riêng, tức trở thành chuyên chế của phe phái và lợi ích nhóm. Vấn đề khắc phục sự chuyên chế đó luôn là vấn đề nan giải của mọi thời đại và của mọi nhà nước.
Nếu dân chủ chỉ thuần túy là quyết định theo ý chí và lợi ích của đa số thì nan giải khác có thể xảy ra, đó là trường hợp thiểu số "đúng" bị áp chế bởi đa số "sai". Đây được coi là sự nghịch lý của nền dân chủ. Tình huống này đã được suy ngẫm và chỉ ra từ rất lâu trong lịch sử tư tưởng chính trị. Để làm rõ bản chất của nan giải này, Madison đã xem xét nó trong các cuộc bầu cử.