mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương một PHONG TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO Ở BẮC KỲ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 1. Sự ra đời phong trào chấn hƣng Phật giáo ở miền Bắc 1. Nguyên nhân quốc tế dẫn tới phong trào Chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX , phong trào Chấn hưng Phật giáo đã diễn ra ở nhiều nước châu Á.
Do vậy , khi tìm hiểu nguyên nhân ra đời của phong trào này ở từng nước cần phải xem xét nhiều khía cạnh quốc tế của vấn đề, tức là phải xem xét bối cảnh chung tiêu biểu cho nhiều quốc gia châu Á. Nhìn một cách khái quát, cho đến nửa sau thế kỷ XIX, đa số các quốc gia ở Châu Á rơi vào hoàn cảnh bị chủ nghĩa thực dân xâm chiếm, nô dịch, mất chủ quyền và trở thành các quốc gia nửa thuộc địa phong kiến với những mức độ khác nhau. Trước thế kỷ XX, chính trị, văn hoá và tôn giáo (chủ yếu là đạo Công giáo) Châu Âu ào ạt truyền vào các nước Châu Á. Trong bối cảnh đó, tương tự như nhiều tôn giáo bản địa châu Á khác, Phật giáo đứng trước một tình trạng phức hợp, cả những cơ hội thuận lợi và những yêu cầu phải đối diện nếu muốn tiếp tục tồn tại và phát triển.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sự “đối thoại” giữa các bộ môn khoa học với tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng đã mở rộng tầm mức thế giới. Nằm chung trong cuộc đối thoại học thuật và tư tưởng Đông - Tây, sự cọ xát giữa các tôn giáo và triết thuyết lớn Phương Đông (chủ yếu là Phật giáo) với các tôn giáo và triết thuyết Phương Tây (đạo Công giáo, tư tưởng triết học 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ánh Sáng) đã khiến Phật giáo có điều kiện để hình thành một nền Phật học mới có thể đáp ứng được trước sự biến đổi của xã hội. Cuộc đối thoại học thuật và tư tưởng Đông - Tây cuối thế kỉ XIX đầu thế kỷ XX làm xuất hiện hai hiện tượng khá thú vị. Một mặt, nhiều học giả Phương Tây đã dành nhiều công sức và trí tuệ để nghiên cứu Phật giáo, mà kết quả là hàng loạt các công trình nghiên cứu công phu về tư tưởng và kinh điển Phật giáo đã được xuất bản.
Mặt khác trong thời kỳ này nhiều nhà sư châu Á thường xuyên tiến hành công việc giảng pháp và nhiều hoạt động khác nhằm hoằng dương Phật pháp ở các nước Âu Mỹ và đã đạt được nhiều thành công đáng kể. Sự xuất hiện của chủ nghĩa xã hội với sự ra đời của Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết (Liên Xô cũ), đã có tác động rất lớn đến phong trào giải phóng dân tộc cũng như tư tưởng Phật giáo các nước Châu Á đương thời. “Tại một số quốc gia Châu Á tuy có ảnh hưởng chủ nghĩa Mác, song chính Đảng Mác xít không đủ điều kiện đảm đương nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc , đã xuất hiện hiện tượng tư tưởng cứu thế, bình đẳng, từ bi của Phật giáo nhanh chóng hội nhập với tư tưởng xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác và tư tưởng bình đẳng, bác ái của tư sản để hình thành xã hội Phật giáo” [30, tr. Về sự đối thoại giữa Phật giáo với chủ nghĩa xã hội, có lẽ không ví dụ nào điển hình hơn bài giảng thuyết với tiêu đề Dùng Phật phê bình chủ nghĩa xã hội của Hoà thượng Thái Hư (Trung Quốc).
Nội dung bài giảng pháp này cho thấy Thái Hư đã nghiên cứu kĩ sự phát sinh và phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học. Trong nghiên cứu của mình, nhà sư này cũng đã phân biệt rõ sự khác biệt giữa những người xã hội dân chủ và những người cộng sản. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy từ SriLanka, Ấn Độ, Trung Quốc, với sự hoạt động tích cực của các nhân vật Phật giáo xuất chúng nêu trên, ngọn gió Chấn hưng Phật giáo, bằng nhiều con đường và nhiều yêu cầu, đã thổi sang các nước ở Châu Á khác như: Nhật Bản, Myanmar, Việt Nam” Phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất và trực tiếp nhất từ phong trào Chấn hưng đạo Phật ở Trung Quốc, đặc biệt là những tư tưởng cải cách Phật giáo của Hoà thượng Thái Hư.“ Thiền sư Thái Hư và Phật giáo Trung Quốc là nguồn lực kích thích chủ yếu cho phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam, những tư tưởng Phật giáo nhân gian của Thái Hư cũng thấm sâu đời sống tri thức và Phật pháp của Phật tử Hà Nội”. Ở Việt Nam có Thiền Sư Thích Trí Hải là người có công đầu trong việc vận động thành lập Hội Bắc Kỳ Phật giáo.
Tư tưởng Chấn hưng Phật giáo xuất hiện trong suy nghĩ của Thiền sư vào năm 1924, khi Ông mới 24 tuổi. Nhà sư trẻ này nhận ra một thực tế của Phật giáo Việt Nam đương thời rằng: Ngoại trừ rất ít các vị cao Tăng trí thức, phần nhiều Tăng Ni thất học, không biết Hán văn nên không hiểu kinh sách Phật giáo đọc tụng hằng ngày. Bên cạnh đó hầu hết các chùa đã bị biến tướng không còn thuần túy Phật giáo. Cho nên từ nơi thờ tự cho đến nghi thức lễ bái không đâu giống đâu.
Các chùa không những thờ Phật, Bồ Tát mà còn thờ cả hổ, rắn, chó đá, bình vôi… trong nhà thờ không hết thì đem ra cả ngoài sân, gốc cây. Do đó một hệ quả tất yếu là Phật giáo ngày càng đi vào con đường suy thoái và mê tín. Trước thực trạng đó Thiền sư Trí Hải đã cùng các cộng sự trên cơ sở phỏng theo lối tổ chức Hội Liên xã ở các sơn môn trước đây, lập ra một tổ chức có tên gọi “Lục Hòa Tịnh Lữ”, nghĩa là những người trong sạch làm bạn cùng nhau, tu theo sáu phép lục hòa của Đức Phật. Tuy nhiên ý định thành lập Hội Phật giáo vẫn còn gặp phải sự ngăn cản của một số cao Tăng ở Hà Nội.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi bàn bạc trao đổi ý kiến, cuối năm 1932 nhóm quyết định thành lập một tổ chức có tên gọi “Phật Học Tùng Thư” với mục đích là biên dịch kinh sách Phật giáo Hán ngữ ra chữ Quốc ngữ để ấn hành và truyền bá sâu rộng trong Phật tử và quần chúng nhân dân với mong muốn sẽ tiến hành lập Hội Phật giáo khi đã được nhiều người hiểu biết tán thành, khi nhân duyên đầy đủ và cơ hội thuận tiện. Vào ngày 8 tháng 4 năm Giáp Tuất(1934) tức ngày Phật Đản, Thiền Sư Thích Trí Hải chính thức làm lễ nhập tự, cũng là ngày Phật Học Tùng Thư chuyển về chùa Quán Sứ - Hà Nội và bàn việc thành lập Hội Phật giáo. Ngày 16 tháng 11 năm 1934 với sự kiện Thống Sứ Bắc Kỳ ký nghị định số 4283 cho phép thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ, Hội quán đặt tại chùa Quán Sứ - Hà Nội, là niên điểm chấm dứt 10 năm khởi xướng và vận động Chấn hưng Phật giáo do Thiền Sư Thích Trí Hải và những người đồng chí của mình kiên trì vượt qua nhiều gian khó thực hiện và đã đạt được thành công bước đầu như mong muốn. Nguyên nhân chính trị - xã hội và tôn giáo trong nước tác động tới sự ra đời phong trào Chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc Đầu thế kỉ XX, sau nhiều lần khởi nghĩa kháng Pháp thất bại, nhiều trí thức yêu nước đi đến nhận thức rằng: Muốn đánh đuổi thực dân xâm lược phải vận động duy tân đất nước phải vận động toàn dân.
Trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản qua các tân thư, tân báo của Lương Khải Siêu và Khương Hữu Vi cùng cuộc vận động cách mạng ở Trung quốc, các thuyết về nhân đạo, nhân quyền của những đại diện tiêu biểu và tiến bộ của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XVIII như Rousseau, S. Voltaire truyền vào Việt Nam làm sáng tỏ thêm nhận thức ấy. Thêm vào đó, sự kiện nhờ sức mạnh của Duy Tân mà Nhật Bản đã đánh bại Đế quốc Nga làm cho niềm tin kia thêm mãnh liệt. Phong trào Duy Tân ở Việt Nam phát sinh từ những nguyên do đó.
Mục 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đích của phong trào này là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, giàu mạnh (theo chế độ quân chủ lập hiến - quan điểm của Phan Bội Châu, theo lý tưởng dân chủ nhưng không rõ hình thức chế độ - quan điểm của Phan Chu Trinh). Hình thức hoạt động của phong trào Duy Tân ở Việt Nam diễn ra khá toàn diện, vừa công khai, vừa bí mật, rộng khắp 3 miền đất nước. Trong bối cảnh đó, nhiều nhà nho sĩ đánh giá cao vai trò của tôn giáo đối với sự phát triển của xã hội, sự tự cường của một dân tộc. Trong các tôn giáo truyền thống của Việt Nam, Phật giáo được đánh giá cao nhất.
Cho nên, việc Chấn hưng Phật giáo được các nhà cách mạng ủng hộ. Theo họ, cùng với những nỗ lực cải cách văn hoá, xiển dương quốc học. Chấn hưng Phật giáo cũng là một hình thức đấu tranh ôn hoà trong khuôn khổ “thỏa hiệp” với phe thống trị. Mục tiêu của các hoạt động này về hình thức là khai hoá dân trí, giữ gìn bản sắc dân tộc, nhưng thực chất là những hoạt động âm thầm tìm cách đòi lại chủ quyền và thoát khỏi nô dịch thực dân.
Trong suy nghĩ của một số nhà cách mạng của phong trào Duy Tân, Phật giáo hưng thịnh thì đất nước cũng sẽ hưng thịnh. Phan Chu Trinh trong một lần diễn thuyết từng nói : “Nước Đại Nam chúng ta ngày nay sở dĩ yếu hèn là vì thiếu tinh thần tôn giáo. Tôn giáo luyện cho ta đức hi sinh, coi nhẹ tính mạng, phá sản vì đạo. Không có tinh thần tôn giáo chúng ta không biết cương thường, xả thân vì nghĩa, chỉ bo bo giữ cái lối riêng của mình.
Nay bà con thử xét, đời Trần sao dân tộc ta hưng thịnh như vậy! Quân Nguyên thắng cả Á cả Âu, nuốt trọn Trung Hoa mà qua đến nước ta thì lại bại tẩu; nào bị cướp giáo ở Chương Dương Độ, nào bị bắt trói ở Bạch Đằng, như vậy chẳng phải nhờ đạo Phật thời đó rất hưng thịnh ư? Nhờ cái tinh thần tôn giáo của ta ư?” [dẫn theo:37, tr. 750] 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, việc Chấn hưng Phật giáo đã nhận được sự tán đồng của nhiều chí sĩ yêu nước đầu thế kỉ XX.