Đặt vấn đề Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là hai nơi có tầm quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội lớn nhất của Việt Nam. Đặc biệt là khả năng phát triển của ngành nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản mang lại giá trị kinh tế cao cho cả nước. Hơn nữa, vì có vị trí địa lý thuận lợi nên có thể tăng cường ngoại giao với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới. Vùng ĐBSH có khoảng 756.000 ha diện tích đất nông nghiệp, trong đó đất phù sa có tiềm năng với phát triển nông nghiệp chiếm tới 70%.
Trong khi đó, ĐBSCL có khoảng 2.000 ha diện tích đất trồng nông nghiệp. Năm 2014, tổng sản lượng lúa, ngô cà phê đạt mức 51.562 nghìn tấn (World Bank, 2017) Một trong những cây trồng quan trọng và góp một phần không nhỏ vào giá trị xuất khẩu cây thực phẩm của Việt Nam là cây đậu tương. Đậu tương là cây nông nghiệp ngắn ngày, dễ trồng, có giá trị dinh dưỡng và đem lại giá trị kinh tế cao, phục vụ nhu cầu của con người và gia súc. Năm 2017, sản lượng đậu tương của cả nước đạt khoảng 157.000 tấn, năng suất đạt gần 1,6 tấn/ha (http://iasvn.org/tin-tuc/Tinh-hinh-san-xuat,-tieu-thu-dau-nanh-tai-Viet-Nam- 11445.
Tuy vậy, việc trồng đậu tương cũng kèm theo những rủi ro nhất định: đất nhiễm mặn, hạn hán, sâu bệnh. Hiện nay tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, sự tăng dân số, nhiễm mặn nguồn nước và việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học quá độ gây nên sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất cây trồng. Do đó, để giảm thiểu ảnh hưởng của các hóa chất độc hại và việc xâm nhập mặn của nước biển, con người đã phát triển những giải pháp an toàn để xử lý hạt giống, cây con trước khi gieo trồng, phát triển các giống cây chống chịu mặn để tăng sức sống của cây non và khả năng chịu mặn của cây. 1 Trong đó, phải kể đến việc sử dụng từ trường (magnetic field – MF) để xử lý hạt giống của cây trồng.
Đã có rất nhiều bằng chứng chỉ ra rằng từ trường có khả năng cải thiện sức sống của hạt giống và cây non. Nhiều nghiên cứu về từ trường đã cho thấy tác động tích cực của nó tới các loại cây trồng khác nhau như: hạt chanh dây, hạt đậu gà, cây cà chua,. Điều đó đã cho thấy rằng việc xử lý từ trường đối với thực vật là một giải pháp hữu ích trong tương lai để có thể tăng sinh khối và chất lượng cây trồng. Từ đó, tôi cho rằng việc nghiên cứu đề tài: ”Nghiên cứu ảnh hưởng của nước từ hóa đến khả năng sinh trưởng và khả năng chống chịu mặn của giống đậu tương ĐT51” là vô cùng cần thiết.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Phân tích tác động của từ trường đến khả năng nảy mầm của giống đậu tương ĐT51. - Phân tích tác động của từ trường đến khả năng sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51. - Phân tích tác động của từ trường đến khả năng chống chịu mặn của giống đậu tương ĐT51.
Yêu cầu - Xác định rõ được ảnh hưởng của từ trường đến khả năng nảy mầm của hạt giống đậu tương ĐT51, khả năng sinh trưởng sinh dưỡng và khả năng chống chịu mặn của giống cây đậu tương ĐT51. - Từ đó nghiên cứu và đưa ra những biện pháp, cách khắc phục sự ô nhiễm môi trường, điều kiện ngoại cảnh gây nhiễm mặn để tạo ra các giống cây trồng mới có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất lợi. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây đậu tương 2.
Lịch sử phát triển cây đậu tương trên thế giới Đậu tương là một trong những loại thực vật lấy hạt quan trọng nhất của nhân loại và chỉ đứng sau lúa nước, lúa mỳ, ngô. Nhờ khả năng thích nghi mạnh mẽ nên đậu tương được phân bố rộng rãi trên toàn thế giới. Nguồn gốc của nghề trồng đậu tương được cho rằng đến từ là Trung Quốc. Trung Quốc được coi là nguồn gốc của nghề trồng đậu tương của thế giới và cũng là nhà sản xuất, xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới trong nửa đầu của thế kỷ 20.
Những năm 1950, sản xuất đậu tương phát triển mạnh mẽ ở Hoa Kỳ và đến nay Hoa Kỳ đã trở thành nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới với sản lượng trên 70% (http://camnangcaytrong.com/cay-dau-tuong-dau-nanh- cd11. Mỹ chiếm tới 45% diện tích đất trồng đậu tương và chiếm 55% sản lượng đậu tương của toàn thế giới. Hầu hết sản lượng đậu tương của Mỹ được sử dụng cho thức ăn chăn nuôi, làm dầu ăn và xuất khẩu (Hồ Đình Hải. Thời điểm những năm 1970, việc sản xuất đậu tương tiếp tục phát triển ở các nước Brazil và Argentina.
Tính đến nay, Brazil đã trở thành quốc gia sản xuất đậu tương lớn thứ hai và Argentina là quốc gia sản xuất đậu tương lớn thứ ba. Việc áp dụng công nghệ khoa học vào sản xuất đậu tương đã khiến sản lượng đậu tương tăng cao. Do đó, họ không chỉ là những nhà sản xuất đậu tương lớn, mà còn là những nhà xuất khẩu lớn. Việc sản xuất đậu tương và diện tích đất trồng đậu tương tại Ấn Độ đang phát triển nhanh chóng nhưng năng suất trên một đơn vị diện tích vẫn còn tương đối thấp.
Năm 2007, diện tích đất trồng đậu tương ở Trung Quốc đạt mức 8,90 triệu ha, tổng sản lượng đạt 13,80 triệu tấn và sản lượng trên một đơn vị diện tích là 1550 kg/ha. Tuy nhiên, sản lượng đậu tương của Trung Quốc thấp hơn 3 khi so với các nước sản xuất đậu tương lớn như Mỹ, Brazil, Argentina. Những lý do chính được cho là do quy mô trồng đậu tương của nông dân chưa đủ lớn, các công nghệ tiên tiến chưa được áp dụng vào việc trồng đậu tương và nhu cầu đối với đậu tương ở Trung Quốc đang tăng nhanh nên sản lượng đậu tương trong nước không thể đáp ứng được những nhu cầu của người dân. Năm 1996, Trung Quốc bắt đầu nhập khẩu đậu tương và cũng là nhà nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới tính đến nay (Singh & Shivakumar, 2010).
Lịch sử phát triển cây đậu tương ở Việt Nam Nhờ vị trí địa lý nằm sát biên giới với Trung Quốc và có sự giao thoa văn hóa lâu đời nên từ đời Vua Hùng đã biết đến các loài cây họ đậu. Từ thế kỷ 13, Lê Quý Đôn trong sách “Vân đài loại ngữ” đã tường thuật rằng cây đậu tương được trồng ở một số tỉnh phía đông bắc và bắc bộ nước ta. Các sản phẩm chính từ đậu tương được người dân chế biến và phổ biến là: đậu phụ, bánh ngọt, nước tương, dầu, sữa, bột trong một số thực phẩm và bánh ngọt,. Đậu nành được sử dụng rộng rãi và trồng ở nhiều nước trên thế giới từ.
Mặc dù đậu tương cũng đã có lịch sử lâu đời tại Việt Nam và cũng là loại cây dễ trồng nhưng diện tích đất trồng và sản lượng vẫn còn khá khiêm tốn so với các loại cây lương thực khác. Năm 2014, diện tích gieo trồng đạt 109,4 nghìn ha cùng với sản lượng đạt 156,5 nghìn tấn. Sơ bộ năm 2022, diện tích gieo trồng giảm còn 41,6 nghìn ha, sản lượng giảm còn 65,4 nghìn tấn. Có thể thấy diện tích gieo trồng và sản lượng cây đậu tương đang giảm theo từng năm.
Song nhu cầu của người tiêu dùng càng ngày càng cao, sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường trong nước nên hầu như phần lớn đậu tương Việt Nam vẫn phải nhập khẩu của các nước lớn như Mỹ, Argentina.1: Diện tích gieo trồng và sản lƣợng cây đậu tƣơng hàng năm Diện tích đậu tương Sản lượng đậu tương Năm (Nghìn ha) (Nghìn tấn) 2014 109,4 156,5 2015 100,8 146,4 2016 99,6 160,7 2017 68,4 101,7 2018 53,3 80,8 2019 49,4 77,3 Sơ bộ 41,6 65,4 2020 Nguồn: Số liệu Tổng cục thống kê – GSO (2014 - 2020) Cả nước hình thành 6 vùng trồng đậu tương chính: Theo số liệu năm 1993, vùng Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất (26,2% tổng diện tích đậu tương của cả nước), Tây Nguyên và Trung du Bắc Bộ (24,7%), vùng Đỏ. Đồng bằng sông Cửu Long (17,5%), Đồng bằng sông Cửu Long (12,4%), còn lại là Đồng bằng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Về sản lượng, 3 vùng ĐBSH, Đông Nam Bộ và ĐBSCL chiếm 63,8% sản lượng đậu tương của cả nước. Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm 12,7% diện tích.
nhưng chiếm 20,9% sản lượng với năng suất bình quân 16 tạ/ha, cao nhất cả nước. Đặc điểm chung Hình 2.1: Cây đậu tƣơng và các bộ phận chính 5 Cây đậu tương có tên khoa học là Glycine max (L) Merr., thuộc họ Đậu (Fabaceae). Cây đậu tương là một trong những loại cây trồng đóng vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp của Việt Nam. Đậu tương được trồng như một đối tượng cây trồng có nhiều chức năng do chúng có giá trị dinh dưỡng cao đối với con người và vật nuôi.
Đậu tương còn mang lại giá trị kinh tế cao và là một loài cây khá dễ trồng. Hiện nay các sản phẩm có nguồn gốc từ đậu tương đã có mặt trên thị trường với mẫu mã và loại sản phẩm phong phú, đa dạng như: dầu ăn, sữa, đậu phụ,. đã đáp ứng được lượng lớn nhu cầu của con người. Bộ rễ của cây đậu tương gồm rễ chính và rễ phụ.
Độ dài rễ chính cây đậu tương thường cắm sâu vào trong lòng đất với độ sâu có thể đạt được 30- 50 cm. Mỗi một rễ chính mọc ra nhiều rễ phụ với mật độ dày và có nhiều nốt sần xuất hiện. Hình thái, kích thước của bộ rễ và số lượng nốt sần trên rễ còn phải phụ thuộc vào hạt giống, đất trồng, điều kiện khí hậu và kỹ thuật gieo trồng của con người. Thân cây đậu tương thuộc thực vật thân thảo có nhiều lông nhỏ bao phủ xung quanh.
Khi cây đậu tương còn non, thân có màu xanh và có màu nâu khi cây về già. Trên thân chính thường có khoảng 14–15 lóng dài từ 3–10 cm. Đậu tương gồm 3 loại lá: lá mầm, lá nguyên và lá kép. Lá mầm mới mọc có màu xanh lục và chứa rất nhiều chất dinh dưỡng.
Lá nguyên có kích thước lớn, mọc ra sau khi cây mọc được từ 2–3 ngày. Hình thức của lá nguyên cũng có thể được dùng để đánh giá chất lượng giống có tốt hay không. Lá kép có màu xanh tươi, mọc so le và có nhiều lông lá bao phủ trên bề mặt ngoài. Hoa cây đậu tương thuộc loại hoa đồng chu lưỡng tính có kích thước nhỏ, không mùi không vị.