CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN DE TỰ QUAN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHÍ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu tự quản lý hoạt động học tập 1. Những nghiên cứu về tự quản lý hoạt động học tập ở nước ngoài Tự quản lý học tập là một trong những con đường quan trọng nhất để phát triển tính độc lập, tư duy chiến lược, tư duy sáng tạo. rèn luyện tư duy và tính cách trong mối quan hệ với lĩnh hội tri thức mới và hành động nghề.
Ellinger nhân mạnh: quá trình tự quản lý học tập hiện ra như một trúc mới rất quan trọng trong tâm lý học, là một cơ chế thúc đây sự cải cách trường học, làm cho nhà trường được tô chức phù hợp với mục tiêu đem lại lợi ích quan trọng nhất cho người học là đảm bảo hoàn thanh nhiệm vụ học tập. Từ những quan điểm về vai trò của tự quản lý học tập, nhà nghiên cứu F. Newman (1992) và những cộng sự của mình. đều nhất trí cho rằng: tự quản lý học tập phải được xem là một bộ phận không thé thiếu của việc học trong nhà trường, là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nhà trường trong việc đảo tạo thế hệ trẻ.
Một số công trình nghiên cứu có đề cập đến một số nội dung tự quản lý học tập của sinh viên như: - “Học tập như thế nào” của nhà tâm lý tâm lý học N. Rubakin cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Tác giả đã tổng kết toàn bộ kinh nghiệm quý báu từ cuộc đời lao động sách vở cần man của ông. Trong tác phẩm này ông đã nêu lên cơ sở khoa học của việc học tập và đánh giá học tập của bản thân người học.
- “Tổ chức công việc học tập của sinh viên đại học” của A. Cac tác gia đã nghiên cứu vê việc học tập của sinh viên, trên cơ sở kinh nghiệm hành động của cá nhân đã đưa ra một số phương pháp học tập của sinh viên. - “Sinh viên học tập như thế nao” [16] của Entwstle, Noel, and Hounsell, Dai, eds. Cac gia đã dé cap đến một số co sở tâm lý của hoạt động học tập của sinh viên và phương pháp giảng dạy của giáo viên nhằm tối ưu hóa các hành động của sinh viên trong trường đại học.
- Trong cuốn “Hiệu quả dạy và học” [20] tác giả Lancaster, Otis Ewing đã khăng định vai trò to lớn của công tác tự quản lý của người học góp phần nâng cao tính tích cực hành động trí tuệ, chủ động trong việc lập kế hoạch ngay từ đầu cho cả chương trình học tập. Tác giả cho rằng: “Quá trình nắm kiến thức mới không thê tiến hành bằng việc học thụ động, học thuộc các quy tắc, các kết luận và khái quát hóa. Nó được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác học tập của người học, của việc phân tích logic sâu sắc các yêu cầu, điều kiện học tập tích cực xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch học tập của người học”. - Tác giả Menges, Robert J (1997) trong cuốn sách “Kinh nghiệm dạy-học cho sinh viên đại học và người lớn” [22] đã nghiên cứu và đưa ra chỉ dẫn về những nguồn lực dẫn đến thành công trong dạy-học và quản lý quá trình dạy- học, về lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả dạy- học.
- Trong cuốn sách “Lớp học ở trường đại học: mâu thuẫn, thay đổi và học tập” [21], tác giả Mann, Richard D và một số giảng viên trường đại học Michigan (Mỹ) đã nghiên cứu về động thái trong lớp học. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự chuẩn bị kiến thức ở nhà, các kiểu học tập ở sinh viên có liên quan đến sự tích cực tư duy tiếp thu bài giảng của giảng viên. Sinh viên trả lời câu hỏi với nhiều phương án khác nhau dựa trên phương pháp dạy thực hành của giảng viên. Đây là một phần của tâm lý học trang bị cho sinh viên như hành động giao tiếp, tư duy, giải quyết van đề, tự quản lý bản thân, sáng tạo trong học tập.
- “Sinh viên tự quản lý học tập” [26] của Zimmerma, Risemberg. Các tác giả đã chỉ ra 6 thành phần chính của tự quản lý học tập và quy trình tự quản lý học tập của sinh viên giúp họ có được thành tích cao trong học tập.Allen tiến hành nghiên cứu ký năng học tập ở trường đại học. Theo tác giả dé sinh viên thích ứng với hoạt động học tập ở đại học cần hình thành ở họ các kỹ năng: - Ky năng sử dụng quỹ thời gian cá nhân - Kỹ năng hình thành các hành động học tập và các phẩm chất khác (như tâm thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập) - Kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực - Ky năng chu động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang tính nghề nghiệp Trên đây là một số nghiên cứu về tự quản lý học tập trong những năm gần đây. Phân tích các nghiên cứu này cho thấy đào tạo đại học ở các nước Phương Tây chú trọng đến hành động cần đạt được của người học - người lao động tương lai trong xu thế toàn cầu hóa.
Trong nghiên cứu về lĩnh vực học tập của sinh viên, mới chỉ được nhân mạnh hoạt động học tập ma ít xem xét đến vấn đề tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên. Những nghiên cứu về tự quản lý ở trong nước Ở Viét Nam, những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã đề cập đến vấn đề hành động học tập của sinh viên theo phương thức đảo tạo theo tín chỉ: - “Một số van đề về hành động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ” của Lưu Thị Trí, Tạp chí Tâm lý học số 257, kỳ 1, tháng 3 năm 2011. - “Hành động học tập của sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” của Phạm Thị Thanh Hải, Tạp chí tâm lý học số 262, kỳ 2, tháng 5 năm 2011. - “Hướng dẫn sinh viên học tập ngay từ giai đoạn khởi đầu trong đào tạo theo tín chỉ” của Đỗ Hồng Cường, Tap chí tâm lý học, số 265, kỳ 1, tháng 7 năm 2011.
- Một số yêu cầu đối với sinh viên khi tham gia hoạt động học tập theo tín chỉ của Nguyễn Thị Út Sáu 2012, tạp chí giáo dục học số 291. - “Kỹ năng học tập của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn theo phương thức dao tạo tín chỉ” của Dinh Quang Hùng, 2013. - “Sự thích ứng của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn với phương thức đảo tạo theo tín chỉ” của Phạm Văn Huệ, 2013. Trong các công trình khoa học này, các tác giả đã đề cập đến các hoạt động học tập của sinh viên như hành động đọc sách, tài liệu tham khảo, hành động nghiên cứu khoa học, hành độngthực hành.
Qua đó đề xuất các biện pháp nhăm nâng cao hoạt động học tập cho sinh viên theo đào tạo tín chỉ. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ. Đa số trường đại học chưa chú ý nhiều đến nghiên cứu và đào tạo các hành động tự quản lý học tập, kỹ năng tự quản lý học tập cần thiết cho sinh viên. Sau khi nghiên cứu các công trình và những tài liệu ở trong nước và nước ngoài tôi thấy rằng: Các công trình nghiên cứu đã khăng định được vai tro, ý nghĩa, ban chất chủ động, tự giác trong hoạt động học tập sinh viên.
Tuy nhiên, những nghiên cứu đó lại tập trung chủ yếu vào mặt tâm lý học phương pháphọc tập. Dưới góc độ tâm lý học, tự quản lý học tập trong dao tạo tín chỉ vẫn còn là lĩnh vực mới mẻ và hấp dẫn dé thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học. Việc nghiên cứu hình thành hành động này sẽ giúp sinh viên có thể hoà nhập với mô hình đảo tạo theo tín chỉ hiện nay của các trường đại học trong nước và của các trường đại học tiên tiền trong khu vực và quốc tế. Một số van đề lý luận cơ bản về tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo tín chỉ 1.
Hoạt động học tập theo phương thức dao tao tín chỉ của sinh viên 1. Dao tạo theo tín chỉ Đến nay, phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã được triển khai và áp dụng trong gần 50 trường trong cả nước. Vào thời điểm nay, việc dạy và học theo phương thức đảo tạo tín chỉ gần như bắt buộc đối với các trường đại học và cao đăng theo nghị quyết sô 37/2004/QH11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục và quy chế 43/2007/QD- BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đào tạo đại học và cao đăng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ. Mặc dù việc học theo phương thức đảo tạo tín chỉ ở Việt Nam được thực hiện lần đầu tiên ở trường Đại học Bách Khoa Tp.
HCM vào năm học 1993 — 1994 và thực hiện rộng rãi ở các trường sau đó nhưng cho đến nay việc áp dụng phương thức học tập này vẫn còn nhiều lúng túng tại các trường và nhiều sinh viên vẫn chưa thật sự năm bắt được ý nghĩa của nó so với phương thức đào tạo theo niên chế. Do vậy, những ưu điểm của phương thức đào tạo này vẫn chưa thực sự được bộc lộ rõ nét. Trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công Nghệ Hoa Trung, Vũ Han mùa he năm 1995, học giả James Quann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau: Tin chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường dé học một môn học cụ thé, bao gồm (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết van dé, viết hoặc chuẩn bị bài.; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo đài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần.