Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp a.Khái niệm Cơ chế quản lý tài chính là hệ thống tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận hành để quản lý các hoạt động tài chính ở một chủ thể nhất định nhằm đạt được nhưng mục tiêu đã định. Cơ chế quản lý tài chính là sản phẩm chủ quan của con người trên cơ sở nhận thức vận động khách quan của phạm trù tài chính trong từng giai đoạn lịch sử.
Cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục chuyên nghiệp thực chất là cơ chế quản lý tài chính mà ở đó quyền định đoạt các vấn đề tài chính của đơn vị gắn trách nhiệm thực thi quyền định đoạt đó được đề cao (Mai Ngọc Cường, 2005).Sự độc lập của một cơ sở giáo dục chuyên nghiệp của một trường thành 3 nhóm: Một là, khía cạnh tổ chức, tài chính, mối quan hệ của trường với các tổ chức khác. Hai là, đề cập đến khía cạnh tự do cá nhân. Nó chú ý tới mức độ cá nhân được bảo vệ khỏi những ảnh hưởng từ bên ngoài; đặc biệt là sức ép của chính khách hàng của đơn vị. Nhóm này gắn với quyền tự do học thuật của GV, của nhà khoa học.
Ba là, liên quan tới tự do điều hành các hoạt động của nhà trường. Nhóm này tập trung vào quá trình vận hành nhà trường. Có nghĩa là nhà trường được thực hiện chức năng mà không phụ thuộc vào bất kỳ ai. Tự chủ đại học là một khái niệm phức tạp, đa chiều.
Các tác giả có cách 6 trình bày khác nhau về phạm vi quyền tự chủ của tổ chức giáo dục đại học. Nó thường được các tác giả chi tiết hóa dưới dạng một bảng liệt kê danh mục về các thẩm quyền cần có đối với một tổ chức giáo dục đại học.Đặc điểm Các đơn vị sự nghiệp giáo dục chuyên nghiệp thực chất là các đơn vị sự nghiệp công lập, là những đơn vị quản lý và cung cấp các dịch vụ công về giáo dục nghề nghiệp cho xã hội do Nhà nước thành lập và đặt dưới sự quản lý của Nhà nước, nên quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập mang những đặc điểm riêng, cụ thể: - Quyền đi đôi với trách nhiệm; - Quyền tự chủ tài chính luôn song hành với các quyền tự chủ trong các hoạt động khác của đơn vị; - Quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công là quyền tự chủ có giới hạn. - Thể hiện tư cách pháp nhân như trạng thái pháp lý, ngân sách riêng, hình thức của tài trợ công, khoán NS, phi tập trung hóa. - Thể hiện việc quản trị nội bộ như sự tách biệt giữa NS đầu tư với NS hoạt động, thủ tục liên quan tới lợi nhuận hàng năm, thành phần Hội đồng quản trị.
- Thể hiện chủ thể kinh tế như chuyển giao tài sản và cơ sở hạ tầng từ nhà nước cho tổ chức. Vai trò của cơ chế tự chủ tài chính Vai trò cụ thể của việc thực hiện giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục chuyên nghiệp được thể hiện trên các mặt sau: Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị đã giúp các đơn vị chủ động thu hút, khai thác, tạo lập nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách thông qua đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước, nhân lực, tài sản để việc thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn, mở rộng, phát triển nguồn thu. 7 Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị tác động tích cực tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động hơn trong công tác quản lý tài chính, quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng kinh phí và thực hành tiết kiệm. Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị góp phần tăng cường trách nhiệm của đơn vị đối với nguồn kinh phí, công tác lập dự toán được chú trọng hơn và khả thi hơn.
Giao quyền tự chủ tài chính là cơ sở xác lập cơ chế bảo đảm và hỗ trợ thực hiện quyền tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính trong đơn vị. Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị bảo đảm đầu tư của Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp được đúng mục đích hơn, có trọng tâm trọng điểm, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp. Lợi ích của tự chủ tài chính Việc trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp tạo ra sự chủ động sáng tạo cho họ, các đơn vị có thể linh hoạt trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí, đồng thời nâng cao tính tự chịu trách nhiệm khiến cho các đơn vị phải biết tiết kiệm, tránh lãng phí. Nhờ tiết kiệm các nguồn thu được sử dụng hợp lý, nâng cao thu nhập cho người lao động, trang thiết bị được đầu tư trọng điểm, tạo điều kiện nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, các đơn vị chủ động hơn trong công tác quản lý tài chính, chủ động trong đầu tư mua sắm và xây dựng cơ bản theo thời điểm và mục đích sử dụng kinh phí có hiệu quả, tự chủ trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy và lao động trong từng đơn vị.
Cơ chế tự chủ cho phép các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp được mở rộng hoạt động dịch vụ của mình, mở rộng các hình thức liên kết nhằm tăng nguồn thu cho đơn vị đồng thời đơn vị được sử dụng nguồn thu đó theo quy định. Chính điều này đã kích thích các đơn vị tìm kiếm, thu hút nguồn kinh phí ngoài 8 kinh phí Ngân sách Nhà nước (NSNN), muốn vậy họ phải nâng cao chất lượng dịch vụ của mình. Hoạt động của các đơn vị trở nên năng động hơn theo hướng đa dạng hoá các loại hình hoạt động để tăng nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị. Nếu trước kia các đơn vị chỉ trông chờ vào nguồn kinh phí từ ngân sách cấp thì nay họ có thể huy động nguồn lực tài chính từ nhiều cách.
Như vậy chất lượng phục vụ của các đơn vị sự nghiệp nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng được nâng lên, đồng thời gánh nặng đối với ngân sách cũng được giảm bớt, Nhà nước chỉ phải tập trung cho những ngành trọng điểm mũi nhọn. Sự cần thiết ra đời của cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp Một là, xuất phát từ thực trạng bộ máy quản lý của Nhà nước và yêu cầu nâng cao năng lực, hiệu quả của bộ máy quản lý hành chính Nhà nước. Những năm qua, nền kinh tế quốc gia đã chuyển dần sang phương thức quản lý hoạt động theo pháp luật, bộ máy hành chính Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, ngày càng thực hiện có hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên quá trình đó cũng xuất hiện nhiều vấn đề mới và bộc lộ rõ hơn những vấn đề yếu kém.
Bộ máy tổ chức Nhà nước chưa thực sự khoa học, chưa thực sự đổi mới còn cồng kềnh, trì trệ, chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, quan hệ ngang dọc chưa hợp lý, phân quyền, phân công phối hợp còn thiếu rõ ràng, chưa chặt chẽ, còn quá nhiều đầu mối làm giảm sức quản lý vĩ mô phân tán nguồn lực, đội ngũ cán bộ công chức chưa thực sự chuyên nghiệp hoá. Thực trạng biên chế tại các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp vừa thừa, lại vừa thiếu. Cơ cấu công chức còn bất hợp lý về trình độ năng lực đã dẫn đến hiệu quả công việc thấp. 9 Hai là, xuất phát từ thực trạng tiền lương và chính sách tiền lương hiện nay.
Mặc dù chính sách tiền lương đã có những cải cách, mức lương tối thiểu của cán bộ, công chức, viên chức được nâng dần.Tiền lương còn mang tính bình quân, không có sự phân biệt giữa tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức giữa khu vực cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, mức lương còn thấp chưa đảm bảo đúng nghĩa của tiền lương nên không thúc đẩy kích thích tính tích cực, sáng tạo của cán bộ, công chức, làm cho chất lượng công việc của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không đảm bảo. Bên cạnh đó chưa xây dựng được thang lương, ngạch lương cho những cán bộ công chức có trình độ học hàm cao sau đại học, do vậy chưa khuyến khích được lực lượng cán bộ, công chức, viên chức học tập, nâng cao trình độ có thái độ tích cực, nhiệt huyết trong công tác. Đây cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng chảy máu chất xám trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian vừa qua là rất lớn và đáng báo động. Ba là, xuất phát từ phương thức cấp phát kinh phí cho các cơ quan hành chính đơn vị sự nghiệp được áp dụng nhiều năm qua đã bộc lộ nhiều hạn chế.Trước kia, cơ chế quản lý và cấp phát ngân sách của các cơ quan hành chính đơn vị sự nghiệp được cấp phát theo hạn mức kinh phí cho từng mục chi theo mục lục ngân sách Nhà nước.
Do hạn chế trong việc xây dựng dự toán đầu năm hoặc có những biến động bất thường trong năm, dẫn đến cuối năm nhiều đơn vị sử dụng ngân sách đã xảy ra tình trạng thừa hạn mức kinh phí ở mục này nhưng lại thiếu kinh phí hoạt động ở mục khác, hoặc nếu không sử dụng hết thì phần hạn mức thừa sẽ bị huỷ bỏ… Cơ chế này dẫn đến tình trạng sử dụng kinh phí chưa đúng mục đích và chưa hiệu quả, tình trạng tồn đọng kinh phí ở các đơn vị sử dụng NSNN còn nhiều. Cách cấp phát tài chính này có xu hướng thiên về cơ chế “xin - cho”, các đơn vị sự nghiệp phần lớn còn ỷ lại vào việc phân bổ ngân sách nhà nước hàng năm. Nội dung cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp 10 1.