Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Truyền thuyết về các nhân vật “Tứ bất tử” nhìn từ đặc trưng thể loại Chương 3: Truyền thuyết về các nhân vật “Tứ bất tử” trong mối quan hệ với các thành tố văn hóa khác 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm truyền thuyết và truyền thuyết nhân vật 1. Khái niệm truyền thuyết Truyền thuyết ra đời từ nhu cầu tôn vinh, tự hào về những chiến công vĩ đại cả về làm ăn lẫn chiến đấu của con người trong thời đại mà những yếu tố xã hội – lịch sử của nó mang đặc trưng chung của thời đại anh hùng trong lịch sử nhân loại.
Đó là thời kỳ con người bước vào chế độ văn minh đầu tiên. Ở Việt Nam, nó được đánh dấu bằng sự kết thúc của thời kỳ tiền sử, sự khởi đầu của thời kỳ sơ sử, với sự hình thành của nhà nước Văn Lang đầu tiên, thuộc thời kỳ kim khí mà đỉnh cao là văn hoá Đông Sơn. Một số tác giả phủ nhận sự tồn tại của truyền thuyết với tư cách là thể loại văn học dân gian độc lập như: Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh,. Ngược lại, Đỗ Bình Trị, Kiều Thu Hoạch và nhiều nhà nghiên cứu khác quan niệm truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian.
Năm 1971, trong cuốn sách Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam có tới ba bài viết khẳng định truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian. Tác giả Kiều Thu Hoạch nhận định: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật theo quan niệm nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại” [23, tr. Vào đầu những năm 80, mục truyền thuyết do Chu Xuân Diên thực hiện đã có mặt trong Từ điển văn học. Truyền thuyết được khẳng định là một trong những thể loại tự sự dân gian, có quan hệ gần gũi với các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại và truyện cổ tích.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam tập 2 của tác giả Hoàng Tiến Tựu, Văn học dân gian Việt Nam của tác giả Lê Chí Quế chủ biên, Văn học dân gian (dành cho tại chức và từ xa) của tác giả Phạm Thu Yến (chủ biên),… đều dành một chương cho việc nghiên cứu truyền thuyết với tư cách là một thể loại độc lập. Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam, GS.TS Lê Chí Quế đã định nghĩa về truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử hay di tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ” [56, tr. “Trên thế giới, khoa học về truyền thuyết dân gian được gọi tắt là truyền thuyết học, là một thuật ngữ được dịch từ tiếng Đức: Volksagenkunde. Volk có nghĩa là dân gian, sage có nghĩa là truyền thuyết, kunde có nghĩa là môn khoa học” [22, tr.
Truyền thuyết tương đương với thuật ngữ "legend" của tiếng Anh hay "légende" của tiếng Pháp. Trước khi truyền thuyết được sưu tầm và ghi lại bằng văn tự, nó là một thể loại của văn học truyền miệng. “Truyền thuyết tuy là từ gốc Hán, nhưng không phải là thuật ngữ có từ xa xưa ở Trung Quốc, theo giới folklore Trung Quốc cho biết, thì đây cũng chỉ là một danh từ được chuyển từ thuật ngữ sage” [22, tr. Truyền thuyết đã thể hiện rất rõ quan điểm của nhân dân trong việc đánh giá lịch sử và luôn khẳng định vai trò to lớn của nhân dân đối với lịch sử.
Do thường xuyên phải đối mặt với những cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước, với những biến động lớn nên trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, truyền thuyết đóng vai trò là một thể loại quan trọng phát triển mạnh mẽ, liên tục. Có nhiều cách phân loại truyền thuyết tuỳ thuộc vào những tiêu chí khác nhau, nhưng cách phân loại căn cứ vào nội dung của thời kỳ lịch sử được truyền thuyết phản ánh là hợp lý hơn cả vì tránh được sự trùng lặp và thích hợp với đặc trưng phản ánh lịch sử của truyền thuyết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt [21, tr.35] của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam hệ thống thể loại trong kho tàng truyền thuyết người Việt gồm 3 loại lớn như sau: - Truyền thuyết nhân vật - Truyền thuyết địa danh - Truyền thuyết phong vật 1. Truyền thuyết nhân vật Truyền thuyết nhân vật kể về những nhân vật lịch sử, những người có công trạng, ảnh hưởng lớn tới đời sống nhân dân.
Truyền thuyết nhân vật sẽ bao gồm các tiểu loại sau: - Truyền thuyết về người anh hùng chống xâm lược như các nhân vật: Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Thánh Gióng, Quang Trung, Hoàng Hoa Thám,… - Truyền thuyết về người anh hùng văn hóa, đó là các danh nhân lịch sử, tổ tiên, dòng họ, các bách nghệ tổ sư, các nhân vật như: Lạc Long Quân, Âu Cơ, các vua Hùng, Lư Cao Sơn tổ nghề rèn, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử,… - Truyền thuyết về người anh hùng nông dân là các nhân vật phất cờ khởi nghĩa, lãnh đạo nghĩa quân chống lại triều đình phong kiến cùng bọn quan lại tham tàn, gian ác, đó là các nhân vật như: Quận He, Ba Vành, Bà Ba Cai Vàng, chàng Lía,… Nhân vật trong truyền thuyết được xây dựng theo kiểu có ngoại hình sơ lược, chỉ chú ý tới một vài đặc điểm có tính chất phóng đại, thần kì như: sự thụ thai lạ lùng của Thánh Gióng, làn da đen sạm của Mai Hắc Đế, đôi vú vĩ đại của Triệu Thị Trịnh,… Tính cách nhân vật chỉ bộc lộ chủ yếu qua hành động. Truyền thuyết thường khắc họa nhân vật bằng cách nhấn mạnh một hành vi hay một câu nói bất hủ nào đó của nhân vật. Trong loại truyền thuyết 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân vật, tiểu loại truyền thuyết anh hùng chống xâm lược là biến thể nổi bật nhất, chiếm số lượng lớn nhất trong kho tàng truyền thuyết của Việt Nam. Khái niệm “Tứ bất tử” và truyền thuyết về các nhân vật “Tứ bất tử” 1.
Khái niệm “Tứ bất tử” Trong tư duy của người Việt Nam, “tứ” - con số bốn là một hằng số mang tính ước lệ, khái quát về một phạm trù nào đó, có ý nghĩa lớn. Con số bốn trong dân gian từ xưa đã có nhiều ý nghĩa mang tính triết lí như: bốn phương tám hướng, tứ hải giai huynh đệ, tứ trụ triều đình, tứ tuyệt, tứ trấn, An Nam tứ đại tài, Tràng An tứ hổ, Sơn Tây tứ quý,. Có thể thấy rằng, có rất nhiều giá trị vật chất, tinh thần được bắt đầu bằng “bộ tứ”. Việc chọn lấy bốn trong toàn thể của một tập hợp là chọn lấy những gì tiêu biểu nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại.
Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ “Tứ bất tử” mà chúng tôi được biết là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập, in năm Mậu Thìn (1868) niên hiệu Tự Đức. Người đời Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng Tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy” [10]. Đó là thông tin về “Tứ bất tử” được chép trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về “Tứ bất tử” phong phú hơn. Hà Kỉnh trong cuốn Truyền thuyết Sơn Tinh viết: Ở Việt Nam ta có bốn vị thần bất tử là: Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Bà chúa Liễu Hạnh, Tản Viên Sơn Thần [37]. Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh, trong chuyên khảo Tứ bất tử chỉ trình bày về bốn vị thánh bất tử gồm: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Đức Thánh Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh [34]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cũng khẳng định: “Những sự tích, huyền thoại về các vị thần linh mà tập trung nhất trong bốn vị thần bất tử: Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh đã thâu tóm lịch sử cụ thể và hiện thực thành một lịch sử tinh thần, một thứ lịch sử mang đầy tính thi hướng và thẩm mĩ, vang lên như một sử thi được truyền tụng và vang vọng tới mai sau” [70, tr.
Theo khảo sát (xem phụ lục bảng 1, tr.107), các vị Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ và Thánh Gióng luôn luôn cố định và nhất quán trong các tài liệu, các thời đại. Một số tài liệu thay vào chỗ của Thánh Mẫu Liễu Hạnh là Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không vì cũng như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không liên quan đến việc “hóa sinh” đầu thai. Trong rất nhiều tài liệu của các nhà nghiên cứu lịch sử, “Tứ bất tử” là bốn vị thần đứng đầu trong 27 vị thần trong văn hóa tâm linh Việt Nam. Mặc dù có nhiều tranh cãi về việc có tới lục bất tử (ngoài Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Thánh Mẫu Liễu Hạnh còn có thêm Nguyễn Minh Không, Từ Đạo Hạnh).
Khi Liễu Hạnh chưa giáng sinh thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không được xếp vào hàng “Tứ bất tử”. Đa số những nhà nghiên cứu đều đồng ý với quan điểm của dân gian với 4 vị thần tối cao bất tử trong đó có Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Hiện nay, thuật ngữ “Tứ bất tử” được dân gian quan niệm là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là: Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, Thánh Chử Đồng Tử và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Mỗi vị tượng trưng cho một lĩnh vực đời sống của nhân dân nên được coi là “bất tử”.
Có nhiều tài liệu cho rằng: Thánh Tản Viên (Tản Viên Sơn Thánh) tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai. Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương) tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ. Thánh Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ) tượng trưng cho tình yêu, 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hôn nhân và sự sung túc giàu có.