Phần mở đầu; 3 chương nội dung chính; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TRÊN SÓNG PHÁT THANH 1. Một số lý luận về truyền thông chính sách và truyền thông chính sách dân số: 1.Truyền thông chính sách: - Truyền thông chính sách đóng vai trò quan trọng đối với mỗi khâu của chu trình chính sách công. Sự tham gia của truyền thông chính sách một mặt đảm bảo cho sự thành công của chính sách, mặt khác giúp cho chính sách ngày một được hoàn thiện hơn.
- Khâu hoạch định chính sách, truyền thông chính sách giúp xác định được đúng và trúng vấn đề chính sách, bảo đảm sự đồng thuận xã hội. Khâu xây dựng chính sách giúp quá trình lựa chọn giải pháp công cụ chính sách phù hợp. Khâu thực hiện chính sách giúp cho giám sát chính sách công được thực hiện với sự tham gia của cả xã hội. Khâu đánh giá truyền thông chính sách giúp làm rõ được kết quả chính sách, đồng thời tuyên truyền cho kết quả chính sách, giúp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách.
Truyền thông chính sách dân số: - Truyền thông có vai trò quan trọng với công tác dân số. Nhờ truyền thông tốt mà nhận thức, hành vi của người dân dần thay đổi, do đó chất lượng dân số đã từng bước được nâng lên rõ rệt. - Tuy nhiên, mặc dù công tác truyền thông đã đạt được hiệu quả nhất định, nhưng vẫn chưa thật sự đi vào chiều sâu, mới tập trung vào các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, các vùng đông dân cư và kinh tế phát triển; chưa quan tâm, triển khai được nhiều chiến dịch truyền thông dân số tới những vùng sâu, vùng xa, nơi mà trình độ dân trí còn thấp và cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn. Với đối tượng vị thành niên, nam giới, chưa có được nhiều nội dung tư vấn phong phú; nhất là dân tộc thiểu số và các tôn giáo.
Người cung cấp dịch 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vụ sức khỏe sinh sản chưa được đặt đúng vị trí trong công tác truyền thông, vì thế họ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và tài liệu tư vấn về SKSS/KHHGĐ.Thiếu kiến thức hiểu biết về các vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản. Với nhiệm vụ chính trong giai đoạn hiện nay là tuyên truyền, cung cấp các kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân một cách toàn diện, thì hạn chế này lại càng bộc lộ rõ. Vì đội ngũ CTV dân số được tuyển chọn từ ngay trong cộng đồng, trên cơ sở lòng nhiệt tình tham gia với công tác xã hội là chính, cho nên họ hầu như không có chuyên môn về y tế, mặc dù hằng năm họ đều được tập huấn, nhưng thời gian tập huấn thường rất ngắn. Ngoài ra, đối với đội ngũ làm công tác tuyên truyền viên dân số, ngành dân số sẽ tiếp tục nâng cao kiến thức, chuyên môn kỹ năng truyền thông và tư vấn cho đội ngũ này.
Cần nghiên cứu, tìm ra những mô hình, giải pháp truyền thông, các dịch vụ SKSS/KHHGĐ phù hợp từng vùng, từng địa phương để chất lượng dân số càng được nâng cao. Một số lý luận về chính sách dân số 1. Khái niệmchính sách dân số - Chính sách dân số là một từ ghép, gồm: chính sách và dân số. Theo từ điển Tiếng Việt, chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra.
Ví dụ: chính sách dân số[55, tr. 157] Dân số là số dân trong một nước, một vùng nào đó[55, tr. 239] Chính sách dân số được quan niệm theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, tuỳ thuộc vào mục tiêu cần đạt được trong từng giai đoạn nhất định ở mỗi quốc gia. Có khá nhiều quan niệm về chính sách dân số, mỗi quan niệm có những đặc thù riêng, theo cách nhìn nhận riêng, hoặc tùy theo tính cấp bách đối với việc điều chỉnh sự phát triển và di chuyển của dân cư.
Sau đây là một số khái niệm thườnggặp: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chính sách dân số bao gồm các biện pháp nhằm xoá đi khoảng cách giữa tổng số những đứa trẻ thực sự sinh ra trong xã hội và số trẻ mà xã hội có thể chấp nhận (thông qua một số biện pháp đặc biệt trong việc quyết định để đạt được những mục tiêu xã hội quan trọng). - Chính sách dân số bao gồm những chính sách, chủ trương có liên quan đến con người, đến sự vận động dân số, bao gồm mục tiêu và hệ thống các biện pháp của Nhà nước để điều tiết dân số. Chính sách dân số liên quan đến việc tái tạo và hoàn thiện dân cư. Chính sách dân số phải xác định được những mục tiêu, chỉ ra được những giải pháp hữu hiệu để đảm bảo sự thực hiện mục tiêu đó.
Dựa vào điểm chung của các quan niệm trên, tác giả Luận văn đưa ra khái niệm vềchính sách dân số như sau: Chính sách Dân số làsách lược và kế hoạch quốc gia về Dân sốđược định ra dựa trên đường lối của Đảng và tình hình phát triển dân số ở Việt Nam hiện nay, nhằm đạt được mục tiêu điều tiết và phát triển bền vững về dân số đến năm 2030. Đặc điểm chính sách dânsố Chính sách dân số có các đặc điểm cơ bản sau: - Có nhiều hình thức thể hiện một chính sách dân số, có thể bằng một văn bản, bằng một thông báo chính thức, bằng một tuyên bố của Chính phủ, của cơ quan được ủy quyền, hoặc nó có thể được phỏng đoán từ một loạt các hoạt động được công khai của Chính phủ, của cơ quan được ủyquyền. - Có nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành và thực thi chính sách dân số, tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy của mỗi quốc gia. Có thể là Chính phủ; cơ quan, tổ chức được Chính phủ ủy quyền; hoặc cũng có thể là cơ quan, tổ chức của Chính phủ, phi Chính phủ tổ chức thực hiện các biện pháp công khai, nhằm tác động trực tiếp,giántiếpđếnquátrìnhdân 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com số;hoặccóthểlàcáchoạtđộng,cáchươngước,quyước của cộng đồng hướng vào những khía cạnh xã hội nhưng lại có tác động đến xu hướng dân số.
Nội dung chính sách dân số 1.Những chính sách khuyến khíchsinh - Cấm nạo phá thai hoặc chỉ cho phép nạo phá thai trong trường hợp nguy cơ tử vong của cả mẹ và thai nhi nếu tiếp tục mangthai. -Cấm sử dụng các biện pháp tránh thai hoặc được cung cấp, sử dụng các biện pháp tránh thai, nhưng quy định các điều kiện khá chặt chẽ như là rào cản, nhằm hạn chế việc cung cấp và sử dụng biện pháp tránhthai. -Cho phép sử dụng các biện pháp tránh thai nhưng không được tuyên truyền quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các trục đường giao thông, tại các nơi công cộng. -Không có bất kỳ biện pháp khuyến khích sinh hoặc hạn chế sinh, nhưng việc phân phối sản phẩm và việc thực hiện chính sách xã hội tính theo số người trong hộ gia đình mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho gia đình đông con và có tác động gián tiếp khuyến khíchsinh.
-Báncác phương tiện tránh thai là bất hợp pháp, hoặc cho phép bán phương tiện tránh thai nhưng với điều kiện ràng buộc rất khắt khe, không thuận tiện cho việc sử dụng biện pháp tránhthai. -Miễn, giảm thuế thu nhập cho các gia đình đông con. Mỗi quốc gia quy định đối tượng được miễn, giảm thuế thu nhập tùy theo số con cụ thể và tỷ lệ giảm thuế thu nhập tăng theo số con hiện có của mỗi giađình. -Các quyền lợi ưu tiên cho bà mẹ có nhiều con được các quốc gia quy định khá phong phú, từ vinh danh bà mẹ anh hùng; động viên khuyến khích tinh thần, hỗ trợ vật chất, chăm sóc sức khỏe, miễn phí dịch vụ khám thai, đỡ đẻ, được nghỉ làm việc có hưởng lương để chăm sóc con và được hưởng các điều kiện thuận lợi trong đờisống, sinh hoạt và côngtác.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những chính sách hạn chếsinh * Quy định về sốcon - Quy định số con cụ thể của mỗi cặp vợ chồng, bắt buộc đăng ký thời gian sinh con và số con, cấp giấy phép cho các cặp vợ chồng nếu muốn sinhcon. -Quy định và thực hiện các biện pháp xử lý đối với những cặp vợ chồng sinh nhiều con, bao gồm việc xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, đóng góp quỹ phúc lợi công cộng đối với tập thể, cộngđồng. -Bắtcảtrẻemnộpthuếtheođầungười.Trẻemnằmngoàidiệnsốconquyđịnh thì không được hưởng các quyền lợi như trẻ em trong diện số con quy định.
- Những cặp vợ chồng đã có đủ số con theo quy định thì bắt buộc triệt sản hoặc bắt buộc sử dụng các biện pháp tránh thai tạm thời để điều khiểnsinh. - Khuyến khích nạo, phá thai hoặc cho nạo phá thai mà không có bất kỳ điều kiện ràng buộc, hoặc cho phép nạo phá thai với một số điều kiện ràngbuộc. * Khuyến khích cung cấp, sử dụng biện pháp tránhthai - Chính phủ hỗ trợ chương trình kế hoạch hóa gia đình tự nguyện do các cá nhân, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ triển khai thực hiện thông qua các hình thức trực tiếp (đầu tư kinh phí), hoặc gián tiếp (khuyến khích, ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trong việc tổ chức thực hiện chương trìnhKHHGĐ). -Chính phủ hỗ trợ, ủng hộ hoặc cam kết thực hiện chương trình KHHGĐ thông qua việc ban hành chính sách, pháp luật, chương trình, dự án và đầu tư kinh phí, tổ chức bộ máy để thực hiện chương trình KHHGĐ hoặc các chương trình, dự án liên quan đếnKHHGĐ.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -Đầutưkinhphí,nhânlực,cơsởvậtchất,sửdụngcáccơsởytếcôngcộngđể làm cở sở công lập, ngoài công lập trong việc thực hiện chương trình KHHGĐ. -Bãi bỏ quy định cấm nạo thai hoặc cho phép nạo phá thai theo nguyện vọng hoặc cho phép nạo phá thai với những điều kiện cụthể. -Bao cấp hoặc tạo điều kiện thuận lợi hoặc cho hưởng những ưu đãi đối với các cơ sở công lập, ngoài công lập của các tổ chức, tập thể, tư nhân tham gia cung cấp dịch vụKHHGĐ. -Khuyến khích mở rộng mạng lưới cung cấp phương tiện tránh thai và dịch vụ KHHGĐ thông qua việc hỗ trợ đào tạo, cấp chứng chỉ cho đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên và trả thù lao cho người cung cấp, tư vấn, theo dõi, giúp đỡ người sử dụng biện pháp tránhthai.
-Cung cấp miễn phí hoặc trợ giá phương tiện tránh thai, dịch vụ sức khỏe sinh sản (SKSS/KHHGĐ thông qua việc thực hiện tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai và dịch vụSKSS/KHHGĐ).