Chương 1: Lịch sử và hiện trạng tranh chấp trên Biển Đông Chương 2: Philippin với tình hình tranh chấp trên Biển Đông Chương 3: Thách thức đối với Philippin trong giải quyết vấn đề Biển Đông và một số giải pháp. Bài học cho Việt Nam 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG 1. Biển Đông và các vùng tranh chấp 1.
Biển Đông Biển Đông (tên quốc tế là South China Sea) là một biển rìa lục địa, một phần của Thái Bình Dương, trải dài từ Xingapo tới eo biển Đài Loan với diện tích khoảng 3. Biển Đông có chiều rộng khoảng 600 hải lý nếu tính từ bờ biển Viê ̣t Nam ở tỉnh Phan Rang đến đảo Balabac ở phía nam đảo Palawan ở Philippin, chiều dài khoảng 1800 hải lý tính từ Trung Quốc kéo dài xuống tận phía nam của eo biển Xingapo, Biển Đông có độ sâu trung bình là 1140m, chỗ sâu nhất là khoảng 5420m [18, tr. Biển Đông là một hình thể biển lớn nhất sau năm đại dương. Biển Đông gồm có khoảng 200 đảo lớn nhỏ, các bãi đá ngầm và các dải san hô nằm tập trung thành từng nhóm.
Phần lớn các đảo, đá trên Biển Đông không đủ điều kiện để con người đến ở hay có một đời sống kinh tế riêng. Bù lại, chúng lại có những giá trị chiến lược to lớn về kinh tế, chính trị và an ninh, và do đó đã trở thành mục tiêu tranh chấp của các quốc gia ven bờ. Dựa trên vị trí địa lý của từng nhóm mà người ta phân chia các đảo và bãi ngầm trên Biển Đông thành 8 nhóm chính: 1. Quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) 2.
Quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) 3. Quần đảo Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) 4. Nhóm Anambas Trong tám nhóm đảo và bãi ngầm này, đáng chú ý nhất là hai quần đảo ở trung tâm Biển Đông là Hoàng Sa và Trường Sa, nơi xảy ra tranh chấp giữa một số nước ASEAN và giữa các nước trong ASEAN với Trung Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan. Quần đảo Hoàng Sa nằm ở vùng đông bắc, còn quần đảo Trường Sa nằm ở vùng trung tâm của Biển Đông.
Hai quần đảo có khoảng 170 đảo nhỏ, đá ngầm và bãi san hô, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phần lớn trong số này đều nằm chìm xuống dưới mặt nước khi thủy triều lên. Xung quanh các đảo thường có một rặng san hô ngầm hình vòng tròn hoặc bầu dục. Quần đảo Hoàng Sa Quần đảo Hoàng Sa là một nhóm gồm khoảng 30 đảo nhỏ, đá ngầm, bãi san hô, có tọa độ địa lý từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông với chu vi bờ biển khoảng 518 km. Quần đảo nằm cách Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) của Việt Nam khoảng 200km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230km.
Khoảng cách từ quần đảo đến miền Trung Việt Nam chỉ bằng một phần ba khoảng cách đến những đảo phía Bắc của Philippin. Khí hậu ở đây nóng ẩm mưa nhiều, thường xuyên có sương mù và hay có bão. Một số đảo có nguồn nước ngọt. Trong khu vực quần đảo, ngoài nguồn sinh vật biển phong phú, còn có mỏ phốt phát và đặc biệt là được dự đoán có trữ lượng dầu khí lớn.
Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo chính là An Vĩnh (Amphitrite) và nhóm Lưỡi Liềm hay Trăng Khuyết (Cresecent). Nhóm đảo An Vĩnh gồm có các đảo, bãi san hô và bãi đá ngầm. Các đảo này cao và tương đối lớn so với các đảo khác trên quần đảo Hoàng Sa. Các bãi san hô cũng thuộc loại lớn của Biển Đông.
Những đảo lớn thuộc nhóm An Vĩnh là: đảo Cù Mộc (Tree Island), đảo Bắc (North Island), đảo Trung (Middle Island), đảo Nam (South Island), đảo Phú Lâm (Woody Island), đảo Linh Côn (Lincoln Island), Cồn Cát Tây (West Sand), Cồn Cát Nam (South Sand), Hòn Tháp (Rocky Island). Đảo Phú Lâm có diện tích lớn nhất và có giá trị về kinh tế cao nhất trong quần đảo Hoàng Sa. Nhóm Trăng Khuyết nằm ở phía Tây Nam quần đảo Hoàng Sa gồm 8 đảo và 3 bãi đá ngầm. Tám đảo này là đảo Hoàng Sa (Pattle Island), đảo Đá Bắc (North Reef), đảo Cam Tuyền (Robert Island), đảo Đá Lồi (Discovery Reef), đảo Bạch Quy (Passu Keah/Island), đảo Tri Tôn (Triton Island), đảo Quang Ảnh (Money Island), đảo Quang Hòa (Duncan Island), đảo Duy Mộng (Drummond Island), Cồn Bông Bay (Bombay Reef), đảo Chim Yến (Vuladdore Reef).
Quần đảo Trƣờng Sa Quần đảo Trường Sa bao gồm 148 đảo nhỏ, bãi san hô, bãi cạn, đá ngầm trải dài trên Biển Đông, nhưng chỉ có 26 đảo nổi lên trên mặt nước khi thủy triều dâng cao. Quần đảo nằm ở giữa Biển Đông, trong 8°38′ vĩ độ Bắc và 111°55′ vĩ độ Đông, với diện tích đất liền chưa đến 5 km², nhưng diện tích cả vùng nước bao trùm lên đến gần 410. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hầu hết các đảo thuộc quần đảo Trường Sa không có đất trồng trọt và không có người dân sinh sống, nhưng khu vực quần đảo này lại có những nguồn lợi thiên nhiên khác quan trọng như thuỷ sản, phân chim. Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt ở đây được ước tính là rất lớn.
Hiện trên quần đảo Trường Sa chưa có cảng hay bến tàu thương mại nào, nhưng một số cầu cảng và sân bay quân sự đã được thiết lập trên những đảo có vị trí chiến lược nằm gần tuyến giao thông đường biển chính trên Biển Đông. Các đảo chính của Trường Sa gồm đảo Ba Bình (Itu Aba Island), Nam Yết (Namyit Island), Song Tử Tây (Northeast Cay), Đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island), Song Tử Đông (Southwest Cay), đảo Trường Sa (Spratly Island), Đá Hoa Lau (Swallow Reef), đảo Thị Tứ (Thitu Island), đảo Dừa (West York Island). Trong số đó, đảo Ba Bình có diện tích lớn nhất với khoảng 47 hecta, được coi là nơi cư dân có thể sinh sống bình thường. Hòn đảo có khả năng được hưởng 200 hải lý đặc quyền kinh tế, hiện nay Đài Loan đang kiểm soát.
Nhóm đảo Pratas Nhóm đảo Pratas nằm tại 20o30‟ vĩ độ Bắc và 117o kinh Đông, cách Hồng Kông khoảng 300km về phía Đông Nam, cách Đài Loan khoảng 400km về phái Tây Nam, cách đảo Luzon của Philippin khoảng 500km về phía Tây Bắc. Nhóm đảo Pratas gồm có đảo Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và hai bãi cát ngầm. Đây là quần đảo có hệ thực vật phong phú và nằm trên đường hàng hải từ Hồng Kông đi Manila. Nhóm đảo này đang thuộc quyền quản lý của Đài Loan.
Bãi ngầm Macclesfield Bãi ngầm Macclesfield nằm tại 15o20‟ và 16o20‟ vĩ Bắc, 113o40‟ và 115o kinh Đông, cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 300km về phía Đông Nam và chỉ gồm những bãi san hô ngầm. Chiều dài của bãi Macclesfield khoảng 140km và rộng trên 60km. Đây là bãi nước ngầm không nước nào có thể có chủ quyền đối với Macclesfield như đối với đảo, tuy nhiên Trung Quốc vẫn tuyên truyền như Trung Sa là đảo và tuyên bố chủ quyền. Các nhóm đảo khác (bao gồm bốn nhóm: Bradas, Tambelan, Natuna và Anambas) Bốn nhóm đảo này nằm ở khoảng 4o vĩ Bắc và 108o15‟ kinh Đông, gồm 270 đảo ở phía nam Biển Đông nằm giữa bán đảo Mã Lai và Inđônêxia.
Bốn nhóm đảo này được Luật pháp Quốc tế công nhận thuộc chủ quyền của Inđônêxia. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vùng biển đảo xảy ra tranh chấp chủ quyền Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông xảy ra giữa Trung Quốc, Viêṭ Nam, Philippin, Malaixia, Brunây và vùng lãnh thổ Đài Loan với bốn nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa, bãi ngầm Macclesfield là nhóm đảo Pratas. Ngoài ra, tranh chấp chủ quyền còn xảy ra trên khu vực phía bắc quần đảo Natuna giữa Inđônêxia và Trung Quốc.
Các khu vực tranh chấp cụ thể như sau: - Quần đảo Hoàng Sa là nơi tranh chấp giữa Trung Quốc, Đài Loan, Viê ̣t Nam. - Quần đảo Pratas là nơi tranh Trung Quốc tuyên bố chủ quyền và Đài Loan hiện đang quản lý. - Bãi đá ngầm Macclesfield là nơi Trung Quốc, Đài Loan tuyên bố chủ quyền. - Quần đảo Trường Sa là nơi diễn ra tranh chấp giữa 6 bên: Viê ̣t Nam, Malaixia, Philippin, Brunây, Trung Quốc, Đài Loan.
- Khu vực phía bắc của quần đảo Natuna, cho đến năm 1993 mới xảy ra tranh chấp giữa Trung Quốc và Inđônêxia do đường đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc bao trùm lên phía đông bắc của quần đảo. Lịch sử tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông diễn ra đã gần một thế kỷ, nếu tính bắt đầu từ tranh chấp giữa Pháp (đại diện cho Việt Nam lúc đó) với Trung Quốc (lúc đó là Trung Hoa dân quốc) năm 1921. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn lịch sử tranh chấp từ năm 1921 cho đến nay, cần điểm qua một số sự kiện xác định chủ quyền từ các thế kỷ trước đó mà các quốc gia đã đưa ra nhằm bảo vệ cho yêu sách chủ quyền hiện nay của họ. Quốc gia hiện đang yêu sách chủ quyền trên một diện tích lớn nhất trên Biển Đông là Trung Quốc.
Để chứng minh cho tính hợp pháp của tuyên bố này, Trung Quốc viện dẫn là từ đời Tống, vua Tống Nhân Tông (1023-1063) đã cử thủy quân đi tuần tiễu quần đảo Tây sa (Hoàng Sa). Sau đó đến thời Nguyên, Trung Quốc đã đo đạc thiên văn phía Nam đảo Hải Nam. Đầu thế kỷ XIX, chính quyền tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc cử một hạm đội nhỏ đi khảo sát và chiếm hữu một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Theo lệnh của Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn, đô đốc Lý Chuẩn dẫn ba chiếc pháo thuyền Phục Ba, Thám Hăng, Quảng Kinh đi “thị sát” vùng biển quần đảo Tây Sa.
Tháng 6 năm 1909 đoàn tàu đến quần đảo, đổ bộ lên đảo Phú Lâm, treo cờ, bắn súng, thăm một vài đảo ở phía đông đảo Hải Nam rồi về thẳng Quảng Đông [9, tr. Đó là sự đổ bộ chớp nhoáng của Trung Quốc xuống quần 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, Trung Quốc mới chỉ viện dẫn những sự kiện đó ra mà chưa có những bằng chứng lịch sử như thư tịch cổ, sách nói nên điều đó. Dựa trên sự kiện đó mà Trung Quốc sau này cho rằng họ là nước đầu tiên khai phá quần đảo Hoàng Sa.
Tuy nhiên, họ cố tình lờ đi thực tế rằng, Việt Nam từ rất sớm cũng đã khẳng định chủ quyền không chỉ đối với quần đảo Hoàng Sa, mà đối với cả quần đảo Trường Sa trên Biển Đông. Với nhiều bằng chứng lịch sử xác đáng, Việt Nam đã cho thấy từ lâu, hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền của mình.