phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương và 5 tiết. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và nhân tố tác động việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Khái niệm doanh nghiệp DN luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Sự phát triển của DN góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, đóng vai trò quyết định trong quá trình tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách, tác động trực tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế quốc dân như: cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói, giảm nghèo. DN là một tổ chức kinh tế hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có cơ cấu và hệ thống tổ chức được đặc trưng bởi các mối quan hệ xã hội đặc thù, bao gồm nhiều bộ phận, cá nhân với các vị trí, chức năng và vai trò khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu của DN. Thứ nhất, các mối quan hệ xã hội đặc thù này được quy định bởi quá trình quản lý, điều hành DN. Ngoài ra, DN còn bao gồm mạng lưới thông tin nội bộ.
Mạng lưới thông tin này có vai trò quan trọng trong việc đề xuất, đưa ra các quyết định chính thức trong công tác quản lý DN. Thứ hai, DN có rất nhiều mục tiêu: mục tiêu khách hàng, mục tiêu thị phần, mục tiêu nhân viên, … nhưng mục tiêu cuối cùng của DN là mục tiêu lợi nhuận. Tất cả các mục tiêu khác đều xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận. Nếu không thực hiện được mục tiêu lợi nhuận thì DN không tồn tại hoặc không thể thực hiện được các mục tiêu còn lại.
Thứ ba, DN là tổ chức kinh tế tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội đặc biệt là tạo ra việc làm cho người lao 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hàng năm, các DN tuyển dụng hàng triệu lao động và chịu trách nhiệm trả lương, đảm bảo các quyền lợi, chính sách cho người lao động. DN là một chủ thể sản xuất kinh doanh tạo ra của cải, vật chất cho xã hội. DN luôn cố gắng duy trì việc chuyển hoá các yếu tố đầu vào (như nguyên vật liệu, vốn, lao động, thông tin…) thành các đầu ra (bao gồm hàng hoá, dịch vụ,…).
Trong quá trình này, các DN biểu hiện những cách thức sản xuất khác nhau thông qua việc kết hợp các yếu tố đầu vào khác nhau. Cuối cùng, nó cung cấp các sản phẩm cho thị trường và thu về phần chênh lệch giữa giá đầu vào và giá bán, đó chính lợi nhuận của DN. Có nhiều định nghĩa khác nhau về DN, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đưa ra những nội dung nhằm làm sáng tỏ bản chất của DN, sử dụng định nghĩa trong Điều 4, Luật DN 2009 (định nghĩa này vừa mang tính pháp quy và cũng rất thông dụng) để phục vụ nghiên cứu vấn đề TNXH của DN: “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [17]. Có nhiều cách phân loại DN khác nhau, trong phạm vi bài viết, tác giả xin đưa ra khái niệm về loại hình công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.1 Nguyên tắc cơ cấu công ty cổ phần: Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình DN hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông. Trong công ty cổ phần, số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông.
Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Chỉ 1 http://vi.org/wiki 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một Công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. Công ty cổ phần là một trong loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Bộ máy các công ty cổ phần được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả. Công ty Cổ phần phải có Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành. Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban Kiểm soát. Công ty cổ phần Bitexco đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật.
Khái niệm Trách nhiệm xã hội của DN Khái niệm TNXH của DN xuất hiện lần đầu tiên cách đây khoảng 50 năm. Năm 1953, nhà kinh tế học người Mỹ H.Bowen lần đầu tiên đưa ra khái niệm TNXH trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” nhằm tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích cả người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các DN làm tổn hại cho xã hội. [21,130] Khác với quan điểm trên, Milton Friedman đưa ra một tuyên bố nổi tiếng năm 1970 rằng “có một và chỉ một trách nhiệm xã hội của DN - đó là sử dụng nguồn tài nguyên của mình và tham gia vào các hoạt động nhằm tăng lợi nhuận” 2. Câu nói này khẳng định rằng mục tiêu chủ yếu của DN là thỏa mãn nhu cầu của các cổ đông.
Đến năm 1973, Keith Davis đưa ra một khái niệm khá rộng: “TNXH của DN là sự quan tâm và phản ứng của DN với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lí, kinh tế, công nghệ” 3. Theo đó, TNXH 2 http://www.aspx?portalid=1&tabid=336&itemid=4520 (Theo 360.com – Tin đưa ngày 17/03/2009) 3 http://www.aspx?portalid=1&tabid=336&itemid=4666 (Theo cpv.vn – Tin đưa ngày 17/4/2009) 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của DN chỉ dừng lại ở trách nhiệm với cổ đông và người lao động trong công ty, còn nhà nước phải có trách nhiệm với xã hội vì DN đã góp phần có trách nhiệm với xã hội thông qua nộp thuế cho nhà nước. Trái ngược với quan điểm trên, Archie. B Carroll (2007) cho rằng: “TNXH của DN bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” [6], tức là theo họ, DN là một chủ thể của nền kinh tế thị trường, khai thác các nguồn lực tự nhiên để làm giàu cho DN và trong quá trình đó, họ gây ra những ảnh hưởng không tốt đối với môi trường tự nhiên và con người; do đó, ngoài việc đóng thuế, DN còn phải có TNXH đối với môi trường, cộng đồng và người lao động khác.
Dựa trên quan điểm của mình, Carroll đã đưa ra mô hình kim tự tháp về TNXH, đây được xem là cái nhìn khá toàn diện về TNXH: Hình 1.1: Mô hình kim tự tháp về TNXH của Caroll (1999) Theo mô hình TNXH của Carroll thì TNXH bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện 4.aspx?portalid=1&tabid=336&itemid=4515 (Theo doanh nhân 360 – Tin đưa ngày 17/03/2009) 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thứ nhất, trách nhiệm kinh tế thể hiện qua hiệu quả và tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi DN được thành lập trước hết vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Trách nhiệm kinh tế là nền tảng của tất cả các trách nhiệm khác. - Thứ hai, trách nhiệm tuân thủ pháp luật, đây chính là một phần của bản khế ước giữa DN với xã hội. Nhà nước ban hành các văn bản luật và buộc DN chỉ được phép hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
- Thứ ba, trách nhiệm đạo đức: việc tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra. DN cần phải thực hiện các cam kết ngoài luật. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, nó không bị xử lý về mặt pháp lý nhưng nếu DN không thực hiện hoặc thực hiện không tốt thì sẽ bị xã hội lên án, đây chính là trung tâm của TNXH. - Thứ tư, trách nhiệm từ thiện là những hành vi của DN vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội như quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng…Giống với trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm từ thiện là tự nguyện.
Theo Hội đồng DN Thế giới vì sự Phát triển bền vững: “TNXH là sự cam kết trong việc ứng xử hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như của cộng đồng địa phương và của toàn xã hội nói chung”. [21,139] Trong khi đó, một trong những khái niệm TNXH của DN được dùng phổ biến nhất do Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng Thế giới đưa ra “TNXH của DN là sự cam kết của DN đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và cả các thành viên trong gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả DN cũng như sự phát triển chung của xã hội” 5.org/privatesectot/csr/index.htm 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, dù có nhiều cách hiểu về định nghĩa TNXH của DN nhưng về cơ bản nội hàm khái niệm TNXH của DN đều có những điểm chung, đó là việc đảm bảo lợi ích riêng của từng DN trong khuôn khổ pháp luật hiện hành luôn phải song hành với lợi ích phát triển chung của toàn xã hội.