Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Vũ Kim Điềm thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS. Nguyễn Thị Lan Hương. Công trình thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số đào tạo 9229002.

Về tính cấp thiết, tác giả khẳng định việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường là một trong ba trụ cột cơ bản của chiến lược phát triển bền vững. Tại Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời gây suy thoái môi trường nghiêm trọng: diện tích rừng tự nhiên bị tàn phá, nhiều loài động vật hoang dã đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, nguồn nước ô nhiễm, nồng độ bụi và tiếng ồn tại các đô thị và khu công nghiệp vượt ngưỡng cho phép. Đáng lưu ý, Việt Nam thuộc nhóm 5 quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, với dẫn chứng là đợt hạn hán nghiêm trọng trong gần 100 năm tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên vào đầu năm 2016, cùng sự cố môi trường biển do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh tại Khu công nghiệp Vũng Áng gây ra trên địa bàn 4 tỉnh miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế). Thực trạng này đòi hỏi phải làm rõ trách nhiệm của bộ máy công quyền. Khoảng trống nghiên cứu nằm ở việc các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề môi trường dưới góc độ kỹ thuật, kinh tế hoặc quản lý nhà nước đơn thuần, thiếu sự luận giải mang tính hệ thống từ góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường dưới góc độ triết học, đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm này tại Việt Nam từ năm 1993 đến nay, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong giai đoạn tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu tổng quan những vấn đề liên quan đến trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước; kế thừa giá trị tích cực của các công trình đi trước và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
  2. Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường, cụ thể là: tính tất yếu, nội dung và những nhân tố tác động đến trách nhiệm này;
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân;
  4. Đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định theo góc độ triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; không gian nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam; thời gian nghiên cứu tập trung từ năm 1993 (thời điểm Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội thông qua) đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2021).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm hướng nghiên cứu chính:

Hướng nghiên cứu lý luận về môi trường và trách nhiệm của Nhà nước:

  • Tài liệu quốc tế: Công trình khởi đầu của P. Marsh (1864, Man and Nature); các tác phẩm của Jack Brestes (1968, Environment of Man), R. Wagner (1971, Environment and Man), E. Schumacher (1973, Small is Beautiful); Tuyên bố của Hội nghị Quốc tế về Giáo dục Môi trường tại Beograde do IEEP tổ chức (1975); các công trình của René Dumont (Một thế giới không thể chấp nhận được), Bai Lifan, Alvin Toffler (Cú sốc tương lai, Làn sóng thứ ba, Thăng trầm quyền lực); Michael Atchia và Shawna Tropp (1995, Environmental Management: Issues and Solutions của UNEP); Paul R. Stavins (2000, Public Policies for Environmental Protection); Robert W. Collin (2005, nghiên cứu về cơ quan EPA của Mỹ); Daniel Chiras (2014, Natural Resource Conservation: Management for a Sustainable Future).
  • Tài liệu trong nước: Kế thừa tư tưởng của Chu Văn An, Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV), Lê Quý Đôn, Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ XVIII); các bài viết từ thập niên 1970–1980 của Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Thị Ngọc Trầm, Lê Bá Thảo, Nguyễn Ngọc Sinh, Trần Trọng Hựu, Nguyễn Ngọc Hải; nghiên cứu đạo đức môi trường và sinh thái nhân văn của Đỗ Huy, Vũ Dũng, Nguyễn Đức Khiển, Nguyễn Thị Lan Hương, Lê Văn Khoa, Lê Trọng Cúc, A. Terry Ramloo, Nguyễn Viết Chức, Hà Huy Thành, Trần Lê Bảo, Hồ Sĩ Quý, Đinh Diệu Linh, Phạm Xuân Nam, Nguyễn Danh Sơn.

Hướng nghiên cứu thực trạng trách nhiệm và quản lý nhà nước về môi trường: Bao gồm các công trình nghiên cứu của Lưu Đức Hải, Phạm Thị Ngọc Trầm, Hoàng Hữu Bình, Trần Thanh Lâm, Lê Thị Thanh Hà, Đỗ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Minh Hằng; công trình của Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương; đề tài về trách nhiệm pháp lý dân sự trong lĩnh vực môi trường của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp, 2002).

Hướng nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường: Gồm các sách và bài viết của Đặng Mộng Lân, Phạm Minh Hạc và Nguyễn Hữu Tăng, Trần Đắc Hiến, Chu Thái Thành, Nguyễn Văn Việt, Nguyễn Văn Ngừng, Hà Huy Thành và Lê Cao Đoàn, Trần Anh Phương, Nguyễn Văn Kim, Phạm Thị Oanh, Nguyễn Văn Phước và Nguyễn Thị Vân Hà.

Nhóm công trình Tác giả tiêu biểu trong văn bản Trọng tâm nghiên cứu
Lý luận quốc tế P. Marsh, R. Wagner, E. Schumacher, M. Atchia & S. Tropp, P. R. Stavins, D. Chiras Nguyên tắc sinh thái, tác động của công nghiệp hóa, chính sách công và cơ quan quản lý môi trường.
Lý luận và đạo đức trong nước Phạm Thị Ngọc Trầm, Nguyễn Thị Lan Hương, Đỗ Huy, Lê Văn Khoa, Hồ Sĩ Quý, Nguyễn Danh Sơn Quan hệ tự nhiên - con người - xã hội, đạo đức sinh thái, trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp.
Thực trạng quản lý nhà nước Lưu Đức Hải, Hoàng Hữu Bình, Đỗ Thị Ngọc Lan, Viện NCKH Pháp lý (Bộ Tư pháp) Thực trạng ô nhiễm, vai trò quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật và thẩm quyền xử lý vi phạm.
Giải pháp thực thi Đặng Mộng Lân, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Văn Ngừng, Hà Huy Thành, Lê Cao Đoàn, Phạm Thị Oanh Kiện toàn bộ máy quản lý, hoàn thiện thủ tục hành chính, công cụ kinh tế và giáo dục cộng đồng.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các tài liệu đã công bố tiếp cận vấn đề từ góc độ khoa học môi trường, quản lý hành chính, luật học hoặc kinh tế học tài nguyên. Việc nghiên cứu trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường một cách hệ thống dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử vẫn chưa được thực hiện chuyên biệt; các giải pháp đưa ra trong các nghiên cứu trước đó còn mang tính khái quát, chưa gắn kết chặt chẽ giữa chức năng xã hội của Nhà nước với thực tiễn chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là quan điểm của Ph. Ăngghen và V.I. Lênin về bản chất nhà nước, chức năng xã hội và mối quan hệ biện chứng giữa con người với giới tự nhiên; tư tưởng Hồ Chí Minh về môi trường sống; các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trong Chỉ thị số 36/CT-TW (1998), Nghị quyết số 24-NQ/TW (2013), cùng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và XII.

Khung khái niệm và phân tích của luận án được xây dựng trên các định nghĩa:

  • Bảo vệ môi trường: Là toàn bộ hoạt động của tổ chức, con người về giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó với biến đổi khí hậu; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ gìn môi trường trong lành, bảo đảm sức khỏe và chất lượng sống của nhân dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và hội nhập quốc tế, vì sự phát triển bền vững đất nước (kế thừa Luật Bảo vệ môi trường 2014 và quan điểm Đại hội XI).
  • Trách nhiệm của Nhà nước: Xuất phát từ nguồn gốc và bản chất của Nhà nước vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội. Trách nhiệm của Nhà nước là những công việc bộ máy công quyền phải thực hiện nhân danh xã hội để quản lý, điều hành trật tự chung, phục vụ nhân dân theo quy định của Hiến pháp (như Điều 119 Hiến pháp 1992 sửa đổi 2001), đồng thời chịu trách nhiệm pháp lý đối với các cam kết quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp luận biện chứng duy vật, kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt nhằm phân tích các khái niệm lý luận và tổng hợp các luận điểm thực tiễn.
  • Phương pháp lôgíc kết hợp lịch sử: Phân tích tiến trình nhận thức, sự ra đời của các chính sách và sự phát triển của hệ thống pháp luật môi trường tại Việt Nam từ năm 1993 đến nay.
  • Phương pháp quan sát, thu thập và xử lý thông tin: Sử dụng để khảo sát thực trạng môi trường, các sự cố ô nhiễm và đánh giá hiệu lực điều hành của bộ máy quản lý.

Nguồn dữ liệu và tư liệu: Các văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp 1992 sửa đổi 2001, Luật Bảo vệ môi trường 1993, Luật Bảo vệ môi trường 2014, Pháp lệnh Bảo vệ rừng 1972); văn kiện Đại hội Đảng XI, XII; các chiến lược quốc gia (Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến 2010 định hướng 2020, Chiến lược đến 2020 tầm nhìn 2030, Chiến lược tăng trưởng xanh); số liệu và kết quả tổng kết tại 4 kỳ Hội nghị môi trường toàn quốc (1998, 2009, 2015); cùng báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước về các vụ việc cụ thể.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày chi tiết lịch sử nghiên cứu vấn đề môi trường và trách nhiệm của Nhà nước từ thế kỷ XVIII đến nay. Tác giả phân tích các đóng góp của các học giả quốc tế (P. Marsh, R. Wagner, E. Schumacher, P. R. Stavins, D. Chiras) và các tác giả trong nước (Phạm Thị Ngọc Trầm, Nguyễn Danh Sơn, Nguyễn Thị Lan Hương, Lưu Đức Hải). Tác giả khái quát giá trị kế thừa từ các công trình đi trước về hệ thống khái niệm, vai trò chủ thể duy nhất đại diện sở hữu toàn dân về tài nguyên của Nhà nước, và những hạn chế của các nghiên cứu trước đây. Chương 1 kết luận rằng việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ triết học chuyên ngành CNDVBC và DVLS về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường là lý do trực tiếp hình thành nên nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Chương 2 làm rõ bản chất triết học của trách nhiệm và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường. Dựa trên lý luận của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin, luận án chỉ ra rằng chức năng xã hội là cơ sở duy trì sự thống trị chính trị của Nhà nước; Nhà nước nhận ủy thác quyền lực từ nhân dân để quản lý xã hội, do đó có trách nhiệm bảo vệ lợi ích công cộng và bảo đảm chất lượng môi trường sống. Nội dung trách nhiệm của Nhà nước bao gồm:

  1. Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi, đồng bộ và ổn định thông qua việc thể chế hóa đường lối của Đảng thành các quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch;
  2. Quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái;
  3. Cung cấp và điều phối các dịch vụ công về bảo vệ môi trường trực tiếp hoặc ủy nhiệm cho các tổ chức xã hội thực hiện dưới sự kiểm soát bằng pháp luật;
  4. Phân phối và điều tiết các nguồn lực thông qua các công cụ kinh tế như thuế, ngân sách nhà nước, hệ thống tín dụng và quỹ an sinh xã hội;
  5. Giáo dục, phổ biến ý thức trách nhiệm xã hội và đạo đức sinh thái cho các tầng lớp nhân dân, đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân;
  6. Đại diện cho quốc gia tham gia các công ước, điều ước quốc tế về môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu (như Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất Rio 1992, Rio+10, Rio 2012, COP 21 tại Paris).

Chương này cũng phân tích các nhân tố tác động đến trách nhiệm của Nhà nước, bao gồm trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, bản chất thể chế chính trị, ý thức đạo đức sinh thái của xã hội và áp lực từ hội nhập quốc tế.

Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 3 đánh giá bức tranh môi trường Việt Nam từ năm 1993 đến nay.

  • Về thực trạng môi trường: Văn bản nêu rõ sự xuống cấp của môi trường đất, nước, không khí do hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề và sinh hoạt; các thách thức thiên tai và biến đổi khí hậu cực đoan như trận hạn hán lịch sử gần 100 năm tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên đầu năm 2016; thảm họa môi trường biển do Formosa Vũng Áng làm cá chết hàng loạt tại 4 tỉnh miền Trung năm 2016.
  • Về thành tựu: Nhà nước từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế với các đạo luật quan trọng (Luật Bảo vệ môi trường 1993, 2014); thành lập Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1992) sau đó tách lập thành Bộ Tài nguyên và Môi trường; tổ chức thành công 4 kỳ Hội nghị môi trường toàn quốc (1998, 2009 và lần thứ tư năm 2015); ban hành các chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh; nhận thức và sự vào cuộc của hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương được nâng lên.
  • Về hạn chế và nguyên nhân: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật môi trường còn cồng kềnh, thiếu đồng bộ, có sự chồng chéo giữa các cơ quan quản lý ngành; chế tài xử phạt hành chính và hình sự chưa tương xứng với thiệt hại, chưa đủ sức răn đe; cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường còn thiếu thống nhất; đội ngũ cán bộ làm công tác môi trường còn mỏng và hạn chế về năng lực chuyên môn; nguồn ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư chưa trở thành thói quen tự giác.

Chương 4: MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp cơ bản:

  1. Nâng cao trách nhiệm trong xây dựng hệ thống pháp luật và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy: Rà soát, sửa đổi, bổ sung đồng bộ các văn bản luật và dưới luật về bảo vệ môi trường; hoàn thiện hệ thống chế tài theo nguyên tắc nghiêm khắc: người gây ô nhiễm phải chịu phạt tiền và chi trả toàn bộ chi phí phục hồi chất lượng môi trường; quy định rõ ràng thẩm quyền, tránh chồng chéo chức năng giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp (tỉnh, huyện, xã).
  2. Tăng cường trách nhiệm, hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy Nhà nước: Tăng cường hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất đối với việc xả thải của doanh nghiệp; đẩy mạnh sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường (thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, quỹ tín dụng xanh); nâng cao chất lượng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức quản lý môi trường; đẩy mạnh đầu tư ứng dụng khoa học và công nghệ sạch trong xử lý chất thải công nghiệp và đô thị.
  3. Tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo sự đồng thuận của toàn xã hội: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật môi trường; xây dựng ý thức đạo đức sinh thái và nếp sống văn hóa sinh thái trong nhân dân; đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân với hình thức và khối lượng phù hợp; thực hiện xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường, chuyển giao một số dịch vụ công xử lý môi trường cho các tổ chức xã hội theo cơ chế thị trường dưới sự giám sát của Nhà nước; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và cộng đồng dân cư.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sâu sắc và phong phú lý luận về Nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công trình làm sáng tỏ cơ sở triết học của trách nhiệm và trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo vệ môi trường; xác lập luận cứ khẳng định bảo vệ môi trường là chức năng xã hội tất yếu bắt nguồn từ bản chất nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp hệ thống luận cứ khái quát từ thực tế bảo vệ môi trường tại Việt Nam giai đoạn 1993–2021; chỉ rõ nguyên nhân của các khoảng trống và hạn chế trong công tác quản trị môi trường của các cơ quan công quyền. Từ đó, luận án đưa ra các nhóm giải pháp có tính định hướng cho việc hoàn thiện cơ sở pháp lý, đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, áp dụng công cụ kinh tế và nâng cao tính đồng thuận xã hội.

Các kiến nghị chính sách tập trung vào việc:

  • Thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc người gây ô nhiễm phải nộp phạt và khắc phục hậu quả;
  • Xanh hóa chính sách phát triển kinh tế và các chỉ tiêu quy hoạch;
  • Đổi mới, tinh gọn bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường từ trung ương đến địa phương;
  • Tăng cường xã hội hóa và huy động nguồn lực cộng đồng trong cung cấp dịch vụ xử lý chất thải.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình: Do tiếp cận thuần túy từ góc độ triết học chuyên ngành CNDVBC và DVLS, luận án không đi sâu vào việc đo lường định lượng các chỉ số sinh hóa của môi trường hay thiết kế các mô hình toán kinh tế lượng về tổn thất môi trường. Phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở các dữ liệu được công bố đến năm 2021, do đó chưa cập nhật các biến động thực tế sau thời điểm này.

Hướng nghiên cứu tiếp được xác định từ các vấn đề đặt ra trong luận án:

  • Nghiên cứu cơ chế vận hành trách nhiệm của Nhà nước trước các cam kết quốc tế mới về giảm phát thải ròng và thích ứng biến đổi khí hậu trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới;
  • Đánh giá thực chứng hiệu quả của các công cụ kinh tế môi trường trong điều kiện chuyển đổi mô hình kinh tế tuần hoàn tại các địa phương cụ thể;
  • Nghiên cứu sâu hơn về sự kết hợp giữa trách nhiệm pháp lý của Nhà nước và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Quản lý nhà nước, Luật học và Quản lý tài nguyên môi trường.
  • Giảng viên giảng dạy các học phần Triết học Mác - Lênin, Đạo đức học sinh thái, Xã hội học môi trường và Chính sách công tại các trường đại học, học viện.
  • Cán bộ làm công tác quản lý xã hội, xây dựng pháp luật, các chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, các ủy ban chuyên trách của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp nhằm tổng kết, rút kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý môi trường.

Các phần đáng chú ý để tham khảo gồm:

  • Khung phân tích lý luận về chức năng xã hội và trách nhiệm nhà nước ở Chương 2;
  • Bảng tổng kết và phân tích thực trạng chính sách từ mốc Luật Bảo vệ môi trường 1993 đến năm 2021 tại Chương 3;
  • Hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế và xã hội hóa bảo vệ môi trường được đề xuất tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải thích cơ sở triết học của trách nhiệm Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường như thế nào? Luận án căn cứ vào học thuyết Mác - Lênin về bản chất và chức năng xã hội của Nhà nước. Nhà nước không chỉ là công cụ duy trì trật tự của giai cấp cầm quyền mà còn phải thực hiện chức năng xã hội để điều hòa các quan hệ chung, bảo đảm sự tồn tại của cộng đồng. Theo Điều 119 Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001), quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân đóng thuế nuôi dưỡng bộ máy nhà nước. Do đó, Nhà nước có trách nhiệm bắt buộc phải bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành cho người dân thông qua pháp luật và quản lý kinh tế - xã hội.

2. Những sự kiện thực tiễn nào được luận án dẫn chứng để chứng minh sự cấp bách của trách nhiệm Nhà nước về môi trường? Luận án dẫn chứng hai sự kiện nghiêm trọng diễn ra vào năm 2016: hiện tượng hạn hán lịch sử chưa từng có trong gần 100 năm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất và đời sống; cùng thảm họa môi trường do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh tại Khu công nghiệp Vũng Áng xả thải làm ô nhiễm biển 4 tỉnh miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế), khiến cá chết hàng loạt và hủy hoại hệ sinh thái biển.

3. Hạn chế chủ yếu trong việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước được luận án chỉ ra là gì? Văn bản luận án chỉ ra các hạn chế chính: hệ thống pháp luật môi trường còn cồng kềnh, thiếu đồng bộ và chồng chéo; chế tài xử phạt vi phạm chưa đủ sức răn đe; cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương đến địa phương còn nhiều bất cập, chức năng phân định chưa rõ; đội ngũ cán bộ chuyên trách còn thiếu và yếu; nguồn lực đầu tư tài chính cho công tác bảo vệ môi trường chưa tương xứng; ý thức tự giác bảo vệ môi trường của doanh nghiệp và nhân dân chưa cao.

4. Luận án đề xuất nguyên tắc xử lý nào đối với các chủ thể gây ô nhiễm môi trường? Luận án đề xuất Nhà nước phải kiên quyết thực hiện nguyên tắc: chủ thể nào gây ô nhiễm và làm tổn hại môi trường phải bị xử lý nghiêm minh bằng hình phạt tiền và bắt buộc phải chịu trách nhiệm chi trả để phục hồi lại chất lượng môi trường đã bị hủy hoại hoặc suy thoái về trạng thái ban đầu, đồng thời ưu tiên cho công tác phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm hơn là khắc phục hậu quả.

Kết luận

Luận án của tác giả Vũ Kim Điềm đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công trình phân tích khách quan thực trạng thực hiện trách nhiệm này tại Việt Nam trong giai đoạn 1993–2021, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong quản trị môi trường. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp đồng bộ về pháp luật, điều hành quản lý và tạo lập sự đồng thuận xã hội nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước.