Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội theo pháp luật Việt Nam" do nghiên cứu sinh Hoàng Thị Lan thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Minh Mẫn, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2021, thuộc chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính (mã số 9380102).

Tiêu chí Nội dung định danh
Đề tài Trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội theo pháp luật Việt Nam
Tác giả Hoàng Thị Lan
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Minh Mẫn
Cơ sở đào tạo Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số chuyên ngành 9380102
Năm hoàn thành 2021

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội là một chế định được hình thành đồng thời với mô hình nhà nước dân chủ, nơi tồn tại sự phân định và tương tác giữa cơ quan hành pháp và lập pháp. Trên bình diện lý luận và thực tiễn tại Việt Nam, các cách hiểu về nội hàm này vẫn tồn tại nhiều điểm chưa thống nhất:

  • Tồn tại quan điểm cho rằng chưa có cơ chế bảo đảm đầy đủ để Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội.
  • Một số học giả tiếp cận dưới góc độ trách nhiệm pháp lý truyền thống, đòi hỏi phải hội đủ các yếu tố cấu thành như hành vi vi phạm pháp luật, lỗi và năng lực chịu trách nhiệm pháp lý.
  • Một số ý kiến khác định danh đây là trách nhiệm chính trị thuần túy hoặc trách nhiệm hiến pháp.

Trong thực tiễn hoạt động của Quốc hội các khóa gần đây, yêu cầu làm rõ "trách nhiệm" xuất hiện với tần suất cao tại các phiên chất vấn, giải trình và thảo luận kinh tế - xã hội. Lãnh đạo Chính phủ và các thành viên Chính phủ thường xuyên phát biểu nhận trách nhiệm tập thể lẫn cá nhân đối với các vụ việc cụ thể:

  • Lời nhận trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ về vụ việc Vinashin tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII.
  • Phát biểu nhận trách nhiệm của Phó Thủ tướng Chính phủ về giải ngân và phân bổ vốn đầu tư công tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV.
  • Việc Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận trách nhiệm liên quan đến sai phạm trong kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2018.
  • Bộ trưởng Bộ Nội vụ 5 lần nhận trách nhiệm về các vấn đề quản lý ngành tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV.
  • Đề nghị của các Đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV yêu cầu làm rõ trách nhiệm rút dự án Luật Đất đai ra khỏi chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021.

Tuy nhiên, cơ chế vận hành sau những tuyên bố nhận trách nhiệm vẫn chưa được quy định cụ thể, thiếu quy trình pháp lý để tập thể hoặc cá nhân thành viên Chính phủ thực sự "chịu trách nhiệm". Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực diện, toàn diện và có hệ thống về chế định trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội trong bối cảnh thi hành Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 và Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội; trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm, giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội và Chính phủ, bảo đảm các quy định trực tiếp và gián tiếp về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội được thực thi hiệu quả.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Một là: Phân tích cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, Chính phủ; bản chất, đặc điểm, tính phổ biến và đặc thù trong cơ chế trách nhiệm; yêu cầu xác định trách nhiệm trong các lĩnh vực hoạt động của Quốc hội và trách nhiệm của Chính phủ với tư cách là cơ quan chấp hành của Quốc hội; phân tích kinh nghiệm quốc tế.
  2. Hai là: Khái quát quá trình hình thành và thực tiễn vận dụng lý luận, quy định về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội từ Hiến pháp năm 1946 đến nay qua các bản Hiến pháp và luật tổ chức; đánh giá thực trạng quy định và áp dụng pháp luật hiện hành, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và bất cập.
  3. Ba là: Đề xuất và luận chứng các quan điểm, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật để Chính phủ thực hiện đầy đủ trách nhiệm trước Quốc hội.

Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu: Trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội là khía cạnh thể hiện mô hình chính thể của mỗi quốc gia, phản ánh mức độ dân chủ của xã hội và là một tất yếu khách quan trong mô hình chính thể đại diện. Tuy nhiên, nhận thức cũng như pháp luật về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội tại Việt Nam chưa thống nhất, còn nhiều bất cập, chưa tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết để Chính phủ thực hiện đầy đủ trách nhiệm. Trách nhiệm này còn mang tính hình thức, tác động đến chức năng đại diện cho Nhân dân của Quốc hội trong thực hiện quyền lực nhà nước, từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Do đó, cần có các giải pháp hoàn thiện từ nhận thức đến thể chế pháp lý.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu:

  • Thứ nhất: Trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội được xác lập dựa trên cơ sở lý luận nào?
    • (i) Khái niệm, đặc điểm, yêu cầu và nội dung trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội trong tổ chức quyền lực của bộ máy nhà nước nói chung và Nhà nước CHXHCN Việt Nam nói riêng là gì?
    • (ii) Trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội được thể hiện khác nhau thế nào trong các mô hình tổ chức quyền lực nhà nước? Các yếu tố tác động đến trách nhiệm này là gì?
  • Thứ hai: Pháp luật và áp dụng pháp luật về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
    • (i) Cơ sở hình thành và sự khác biệt về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội qua các bản Hiến pháp?
    • (ii) Pháp luật về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội có những tồn tại gì, nguyên nhân của thực trạng đó?
  • Thứ ba: Quan điểm và giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội ở Việt Nam?
    • (i) Quy trình nào bảo đảm trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội?
    • (ii) Các giải pháp tổng thể và cụ thể để hoàn thiện pháp luật?
    • (iii) Môi trường chính trị - xã hội nào để thực hiện các giải pháp đó?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn các quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội và Chính phủ, sự tác động qua lại giữa hai chủ thể; sự đáp ứng của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng; thẩm quyền của Quốc hội tác động đến Chính phủ và sự đáp ứng của Chính phủ; lịch sử quy định từ năm 1945 đến nay (tập trung vào Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015); cùng các quan điểm lý luận và kinh nghiệm quốc tế liên quan.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Nghiên cứu trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội dưới góc độ phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, gồm trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý theo Hiến pháp và các luật tổ chức; phân loại căn cứ vào chủ thể thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ và hệ quả pháp lý bất lợi phải gánh chịu.
    • Về thời gian: Gắn liền với tiến trình lịch sử lập hiến, tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ năm 2013 đến nay (thời kỳ thi hành Hiến pháp năm 2013).
    • Về không gian: Không gian pháp lý nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có tham chiếu kinh nghiệm lập hiến và tổ chức bộ máy của một số quốc gia trên thế giới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành phân loại và tổng thuật các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trong và ngoài nước theo 4 nhóm vấn đề trọng tâm:

Hướng nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản Nội dung chính đã đạt được
Lý luận về trách nhiệm, kiểm soát quyền lực và mô hình tổ chức - Võ Trí Hảo: "Nâng cao trách nhiệm chính trị của Chính phủ" [81]
- Bùi Ngọc Sơn: "Trách nhiệm hiến pháp" [87]
- Bùi Xuân Đức: "Hoàn thiện cơ chế trách nhiệm của chính phủ và các thành viên chính phủ" [79]
- Trần Ngọc Đường, Ngô Đăng Mạnh (khảo cứu quyền lực Quốc hội) [12]
- Nguyễn Đăng Dung: "Sự hạn chế QLNN" [11], "Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước" [12], "Kiểm soát quyền lực nhà nước" [13], "Quốc hội Việt Nam trong NNPQ" (2007), "Chính phủ trong NNPQ" (2008) [5, 6, 24, 85]
- Lê Thị Anh Đào: Luận án TS "Kiểm soát quyền lực hành pháp trong NNPQ XHCN Việt Nam" [100]
- Lê Minh Thông (Chủ nhiệm Đề tài Viện Nghiên cứu lập pháp, 2019)
- Thái Vĩnh Thắng: "Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước" [30]
- Nguyễn Mạnh Hùng: Luận án TS "Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong NNPQ XHCN Việt Nam" (2018) [103]
- Ban Biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992: "Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới" [1]
Phân tích nguyên lý ủy quyền, cơ chế kiểm soát quyền lực hành pháp, tính tất yếu của việc hạn chế quyền lực nhà nước và sự phân công, phối hợp trong bộ máy nhà nước. Khẳng định Chính phủ vừa có trách nhiệm thực thi pháp luật, vừa là trung tâm điều hành bộ máy.
Trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động giám sát của Quốc hội - Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên): "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện QLNN ở nước ta hiện nay" (2003)
- Trương Thị Hồng Hà: "Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội" (2009) [16]
- Hoàng Minh Hội: Luận án TS "Hoàn thiện pháp luật về giám sát của Nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam" (2014)
- Trần Thị Tuyết Mai: Luận án TS "Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả HĐGS của Quốc hội Việt Nam" (2009) [34, 102, 104]
Làm rõ bản chất giám sát tối cao của Quốc hội bắt nguồn từ quyền giám sát của Nhân dân; xác định quan hệ giữa chủ thể có quyền giám sát và chủ thể chịu sự giám sát.
Trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình lập pháp - Sách tham khảo: "Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội" (2004) [19]
- Hoàng Văn Tú: Luận án TS (2004)
- Trần Hồng Nguyên: Luận án TS (2007)
- Trần Quốc Bình: Luận án TS (2011)
- Trần Hoài Nam: Luận án TS (2018) [97, 105]
- Lê Quốc Hùng: Luận án TS (2004) [101]
Phân tích vai trò chủ động của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách và soạn thảo dự án luật; chỉ ra tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết và sự thiếu rõ ràng trong phân định trách nhiệm lập pháp - hành pháp.
Trách nhiệm giải trình thực tiễn của Chính phủ - Bùi Thị Cần: Luận án TS Chính trị học "Trách nhiệm giải trình của Chính phủ trong hoạch định và thực thi chính sách ở Việt Nam hiện nay" (2018) Khảo sát quy chế và thực tiễn giải trình chính sách của Chính phủ trước Quốc hội dưới góc độ chính trị học.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua tổng quan tài liệu, luận án chỉ ra các vấn đề mà các công trình đi trước chưa giải quyết trọn vẹn:

  1. Về mặt lý luận: Hầu hết các công trình tiếp cận trách nhiệm của Chính phủ như một nội dung phụ thuộc nằm trong đề tài về Quốc hội hoặc cơ cấu bộ máy nhà nước. Chưa có công trình nào xây dựng hệ thống khái niệm độc lập, cấu thành, nội dung, hình thức và các yếu tố tác động đến cơ chế "trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội" theo hướng hoàn chỉnh.
  2. Về bối cảnh pháp lý mới: Đa phần các nghiên cứu được công bố trước thời điểm ban hành Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 và Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015. Một số nghiên cứu công bố sau mốc thời gian này chưa gắn với thực tiễn tổng kết thi hành các văn bản pháp luật nêu trên.
  3. Về tính hệ thống của giải pháp: Các đề xuất trước đây thường mang tính đơn lẻ, cục bộ cho từng hoạt động (chất vấn hoặc lập pháp), chưa hình thành hệ thống giải pháp đồng bộ từ thay đổi nhận thức, hoàn thiện khung thể chế đến cơ chế đảm bảo thực thi mang tính chiến lược dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Hệ tư tưởng và lý luận nền tảng: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ quyền nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
  • Lý thuyết ủy quyền quyền lực: Nhân dân ủy quyền cho Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất; Quốc hội thành lập và giám sát Chính phủ. Hoạt động của nhánh hành pháp không được vượt quá phạm vi ủy quyền và chịu sự giám sát tối cao của nhánh lập pháp.
  • Lý thuyết giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền: Quyền lực nhà nước cần được giới hạn và kiểm soát thông qua Hiến pháp nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân và ngăn ngừa sự lạm quyền.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đánh giá các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước nhằm thiết lập phông kiến thức lý luận về mối quan hệ giữa cơ quan hành pháp và lập pháp.
  • Phương pháp xã hội học pháp luật: Xem xét trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội dưới các chiều kích chính trị, văn hóa, xã hội và thể chế đặc thù của Việt Nam.
  • Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu quá trình phát triển của chế định trách nhiệm qua các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) để nhận diện tính quy luật và đặc điểm kế thừa qua từng giai đoạn.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và đối chiếu các số liệu thực tế qua các kỳ họp Quốc hội (số lượt phát biểu nhận trách nhiệm, tần suất xuất hiện thuật ngữ, số lượng đại biểu chất vấn).
  • Phương pháp phân tích định tính quy phạm và nghiên cứu trường hợp (case study): Đánh giá cấu trúc quy phạm của Hiến pháp và các luật tổ chức, phân tích các trường hợp cụ thể tại nghị trường (vụ việc Vinashin, quản lý kỳ thi quốc gia, rút dự án luật).
  • Phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành: Kết hợp giữa khoa học pháp lý (Luật Hiến pháp, Luật Hành chính) với Chính trị học để luận giải toàn diện cơ chế vận hành quyền lực.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản pháp lý: Hiến pháp qua các thời kỳ, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
  • Văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) và XII về kiểm soát quyền lực nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
  • Biên bản các kỳ họp Quốc hội, tài liệu báo cáo của Chính phủ, dữ liệu chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội khóa XII và khóa XIV.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra liên quan đến đề tài Luận án

Chương này tập trung tổng kết các nhóm công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến tổ chức, hoạt động của Quốc hội, Chính phủ và mối quan hệ giữa hai cơ quan. Tác giả phân tích các khuynh hướng lý luận về khái niệm trách nhiệm, nguyên lý ủy quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước.

Chương 1 chỉ ra các khoảng trống khoa học:

  • Thiếu công trình nghiên cứu chuyên biệt về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội như một thể thống nhất gồm trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân.
  • Thiếu nghiên cứu tổng kết toàn diện thực tiễn sau khi thi hành Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật tổ chức bộ máy ban hành năm 2014 - 2015.
  • Trên cơ sở đó, tác giả xác lập giả thuyết nghiên cứu và hệ thống 03 nhóm câu hỏi nghiên cứu làm định hướng cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội

Chương 2 làm rõ tính tất yếu khách quan và vai trò của chế định trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Các luận điểm chính được phát triển:

  • Khái niệm và bản chất: Trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội là sự ràng buộc về mặt hiến định và pháp lý, theo đó Chính phủ (với tư cách cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội) phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn được giao, chịu sự kiểm soát, báo cáo, giải trình và gánh chịu những hệ quả pháp lý bất lợi từ Quốc hội khi không hoàn thành chức trách.
  • Cấu thành và phân loại trách nhiệm:
    • Trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị: Phân biệt giữa trách nhiệm phát sinh do vi phạm pháp luật và trách nhiệm trước uy tín chính trị, tín nhiệm của cơ quan đại diện nhân dân.
    • Trách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân: Mối quan hệ giữa trách nhiệm chung của tập thể Chính phủ và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
    • Trách nhiệm chủ động và trách nhiệm bị động: Trách nhiệm chủ động thể hiện qua việc tích cực hoạch định chính sách, trình dự án luật, báo cáo công tác; trách nhiệm bị động xuất hiện khi tiếp nhận chất vấn, giải trình, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm hoặc chịu các chế tài bãi nhiệm, miễn nhiệm.
  • Các yếu tố chi phối: Thể chế chính trị, phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên tắc tập trung dân chủ, truyền thống văn hóa - pháp lý và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Chương 3: Thực trạng trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội theo pháp luật Việt Nam

Chương 3 tái hiện lịch sử phát triển của các quy định pháp luật về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và phân tích thực trạng áp dụng pháp luật theo khuôn khổ Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015.

Dữ liệu thực tiễn và trường hợp nghiên cứu được nêu trong chương:

Dữ liệu / Sự kiện thực tế Bối cảnh và kỳ họp Quốc hội Phản ánh thực trạng trách nhiệm
Phát biểu nhận trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XII Nhận trách nhiệm cá nhân đối với các sai phạm tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin).
Phát biểu giải trình của Phó Thủ tướng Chính phủ Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV Nhận trách nhiệm của Chính phủ đối với những bất cập trong phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công.
Tần suất chất vấn về trách nhiệm lãnh đạo ngành Phiên chất vấn sáng ngày 06/11/2019 (Quốc hội khóa XIV) 13 trong tổng số 37 Đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi yêu cầu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân.
Mật độ sử dụng thuật ngữ "trách nhiệm" tại nghị trường Phiên chất vấn Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV:
- Sáng 31/10/2018: 57 lần
- Chiều 31/10/2018: 59 lần
- Sáng 01/11/2018: 56 lần
Thuật ngữ "trách nhiệm" được các Đại biểu Quốc hội sử dụng liên tục như một đòi hỏi pháp lý trọng tâm đối với các thành viên Chính phủ.
Trách nhiệm trong quản lý chuyên ngành Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV Bộ trưởng Bộ Nội vụ 5 lần nhận trách nhiệm về các tồn tại thuộc phạm vi quản lý ngành; Bộ trưởng Bộ GD&ĐT nhận trách nhiệm về kỳ thi THPT quốc gia năm 2018.
Trách nhiệm trong quy trình lập pháp Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV Đại biểu Quốc hội yêu cầu làm rõ trách nhiệm của Chính phủ khi đề nghị rút dự án Luật Đất đai khỏi chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021.

Đánh giá hệ thống pháp luật và thực tiễn thi hành:

  • Ưu điểm: Khung khổ pháp lý ngày càng hoàn thiện, tạo cơ chế dân chủ, minh bạch; việc chất vấn và giải trình ngày càng thực chất; nâng cao nhận thức của các thành viên Chính phủ trước cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân.
  • Hạn chế và nguyên nhân:
    • Quy định pháp luật còn thiếu cụ thể về quy trình xác định hậu quả pháp lý sau khi nhận trách nhiệm.
    • Tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết thi hành luật chưa được xử lý triệt để.
    • Hoạt động trả lời chất vấn đôi lúc còn thiếu trọng tâm, mang tính giải thích tình huống hơn là quy trách nhiệm cá nhân.
    • Cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với các chế tài miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc từ chức.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội

Chương này xây dựng hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp nhằm khắc phục các bất cập đã chỉ ra ở Chương 3.

Hệ thống quan điểm:

  • Bảo đảm giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
  • Quán triệt nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
  • Đặt trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội trong tổng thể mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; coi trách nhiệm là sự tương trợ, hợp tác nhằm nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia.

Các nhóm giải pháp đề xuất:

  1. Hoàn thiện quy định về chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của Chính phủ: Quy định rõ ranh giới thẩm quyền lập quy của Chính phủ; gắn quyền hạn với nghĩa vụ giải trình cụ thể; minh định ranh giới giữa trách nhiệm tập thể của Chính phủ và trách nhiệm cá nhân của từng thành viên Chính phủ.
  2. Đổi mới quy trình, thủ tục thực hiện trách nhiệm trong quy trình lập pháp: Nâng cao chất lượng xây dựng các dự án luật do Chính phủ trình; quy định chế tài xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn hoặc chậm tiến độ trình dự án luật.
  3. Hoàn thiện cơ chế giám sát và các hình thức quy kết trách nhiệm: Cải tiến quy trình chất vấn, trả lời chất vấn theo hướng tranh luận trực tiếp; cụ thể hóa quy trình xem xét hậu quả pháp lý sau chất vấn và giải trình; hoàn thiện quy chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
  4. Bảo đảm các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội: Xây dựng môi trường chính trị dân chủ, minh bạch; phát huy vai trò giám sát của cử tri, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan truyền thông đối với hoạt động của Quốc hội và Chính phủ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Xây dựng một cách có hệ thống khái niệm, đặc điểm, nội dung và các hình thức trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
  • Luận giải tính tất yếu của việc đề cao trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội, chỉ ra rằng bản chất của mối quan hệ này không chỉ mang tính kiểm soát một chiều mà là sự phối hợp, phân công và tương trợ nhằm thực hiện mục tiêu chung phục vụ Nhân dân.
  • Phân tích rành mạch các khía cạnh cấu thành: trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể, trách nhiệm chủ động và trách nhiệm bị động trong tổ chức quyền lực nhà nước.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện bức tranh thực thi trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội qua các nhiệm kỳ, đặc biệt là giai đoạn từ sau Hiến pháp năm 2013 đến năm 2021.
  • Tổng hợp và chỉ ra những biểu hiện cụ thể của tính hình thức trong việc nhận trách nhiệm, tình trạng nợ văn bản hướng dẫn thi hành luật, và sự thiếu hụt các chế tài pháp lý tiếp nối sau phát ngôn nhận trách nhiệm.
  • Cung cấp nguồn cứ liệu thực chứng từ các phiên họp Quốc hội (dữ liệu chất vấn, các phát biểu nhận trách nhiệm cụ thể của lãnh đạo Chính phủ và Bộ trưởng).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ.
  • Kiến nghị cụ thể hóa quy trình từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm gắn liền với kết quả lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm tại Quốc hội.
  • Đề xuất cơ chế chế tài xử lý đối với việc chậm trễ hoặc không hoàn thành trách nhiệm lập pháp của các bộ, ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu:
    • Luận án tập trung phân tích quan hệ giữa hai thiết chế trung tâm là Quốc hội và Chính phủ theo khung khổ pháp lý Việt Nam, chủ yếu tập trung vào giai đoạn từ Hiến pháp năm 2013 đến năm 2021.
    • Các so sánh quốc tế chủ yếu dừng lại ở mức độ tham khảo các nguyên lý chung về phân quyền và ủy quyền, chưa đi sâu phân tích chi tiết kỹ thuật lập pháp của từng quốc gia có cùng điều kiện chuyển đổi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục nghiên cứu cơ chế trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước trước các cơ quan chuyên trách của Quốc hội (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội).
    • Nghiên cứu tác động của việc cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và xây dựng Chính phủ điện tử/Chính phủ số đối với phương thức thực hiện trách nhiệm của Chính phủ trước cơ quan lập pháp.
    • Đánh giá sự tương thích của các chế tài trách nhiệm hiến pháp trong bối cảnh sửa đổi, bổ sung các luật tổ chức bộ máy nhà nước ở các giai đoạn phát triển tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đại biểu Quốc hội và cán bộ cơ quan của Quốc hội: Cung cấp cơ sở lý luận và kỹ năng nhận diện để nâng cao hiệu lực hoạt động chất vấn, giám sát tối cao, thẩm tra dự án luật và thực hiện quy trình bỏ phiếu tín nhiệm.
  • Thành viên Chính phủ, lãnh đạo các Bộ, ngành và cơ quan hành chính: Tài liệu tham khảo hữu ích để nhận thức đúng đắn về phạm vi, nghĩa vụ giải trình và trách nhiệm pháp lý - chính trị khi tham gia hoạt động nghị trường và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
  • Cơ quan tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật (Ủy ban Pháp luật, Viện Nghiên cứu lập pháp, Bộ Tư pháp): Cơ sở khoa học để phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ và các luật liên quan đến kiểm soát quyền lực nhà nước.
  • Giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh ngành Luật và Khoa học Chính trị: Tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các học phần Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Tổ chức bộ máy nhà nước và Lý luận về Nhà nước và pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân định trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội gồm những hình thức cơ bản nào?
Luận án phân định trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội thành: trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý; trách nhiệm tập thể của Chính phủ và trách nhiệm cá nhân của các thành viên Chính phủ (Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng); trách nhiệm chủ động (hoạch định chính sách, trình dự án luật) và trách nhiệm bị động (tiếp nhận chất vấn, giải trình, chịu sự giám sát và gánh chịu các chế tài pháp lý bất lợi).

2. Dữ liệu thực tế nào tại nghị trường được tác giả sử dụng để chứng minh tính thời sự của đề tài?
Tác giả dẫn chứng phát biểu nhận trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ về Vinashin (Kỳ họp 8, Quốc hội khóa XII); phát biểu của Phó Thủ tướng về giải ngân vốn đầu tư công (Kỳ họp 3, Quốc hội khóa XIV); việc 13/37 đại biểu chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm rõ trách nhiệm vào sáng 06/11/2019; mật độ xuất hiện của từ "trách nhiệm" tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV (sáng 31/10/2018: 57 lần; chiều 31/10/2018: 59 lần; sáng 01/11/2018: 56 lần).

3. Đâu là khoảng trống lý luận lớn nhất mà luận án đã chỉ ra từ các công trình nghiên cứu trước?
Khoảng trống lớn nhất là hầu hết các công trình trước đây chỉ tiếp cận trách nhiệm của Chính phủ một cách gián tiếp từ góc độ thẩm quyền của Quốc hội (Quốc hội có quyền gì đối với Chính phủ) chứ chưa xây dựng độc lập một khung lý luận và chế định hoàn chỉnh về "trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội" gắn với các yếu tố cấu thành, điều kiện bảo đảm và hệ quả pháp lý cụ thể.

4. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể nào?
Luận án sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp tài liệu; xã hội học pháp luật; phương pháp lịch sử; phương pháp thống kê; phân tích định tính quy phạm và nghiên cứu trường hợp (case study); cùng phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành kết hợp khoa học pháp lý và chính trị học.

5. Quan điểm cốt lõi của tác giả trong việc hoàn thiện chế định trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội là gì?
Quan điểm cốt lõi là việc hoàn thiện pháp luật phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tôn trọng nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; bản chất trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội phải được nhìn nhận là sự tương trợ, phối hợp giữa cơ quan chấp hành và cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhằm nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, phục vụ Nhân dân.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Lan đã giải quyết một cách hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội theo pháp luật Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với các kỹ thuật phân tích định tính quy phạm và dữ liệu thực chứng nghị trường, công trình đã làm sáng tỏ bản chất, nội dung và các bất cập hiện hành trong cơ chế chịu trách nhiệm của nhánh hành pháp. Hệ thống quan điểm và giải pháp được luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công cuộc hoàn thiện thể chế pháp lý và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.