CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những khái niệm cơ bản về cao su thiên nhiên 1.1 Giới thiệu chung Cây cao su có tên khoa học là Hévéa brasiliensis thuộc họ Euphorbiaceae (Họ Thầu Dầu) được phát hiện đầu tiên vào năm 1744, tại lưu vực sông Amazone (Nam Mỹ) và được mô tả bởi kỹ sư Francois Fresneau. Từ khi rời vùng nguyên quán Amazone vào cuối thế kỷ 19, cây cao su đã được phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới nhất là vùng Đông Nam Á. Đến nay, sau hơn 100 năm di nhập và phát triển, cây cao su là cây công nghiệp hàng đầu trên thế giới.
Diện tích cao su thiên nhiên phát triển mạnh trong những năm đầu thế kỷ thứ 20 : năm 1905 toàn thế giới trồng được 52.000 ha, đến năm 1910 được 455. Các nước đi tiên phong trong việc trồng cao su là Mã Lai, Ấn Độ, các nước thuộc địa Hoà Lan, Srilanka. Cây cao su được nhân trồng với quy mô lớn trên thế giới là nhờ vào sản phẩm đặc biệt của cây là mủ cao su; đó là một nguyên liệu cần thiết trong nhiều ngành công nghiệp hiện nay. Ngoài ra, cây cao su còn cho các sản phẩm khác cũng có công dụng không kém phần quan trọng như gỗ, dầu hạt.Cây cao su còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện vấn đề kinh tế xã hội nhất là ở các vùng trung du, miền núi, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng tại các vùng biên giới.2 Lịch sử phát triển cao su thiên nhiên trên thế giới.
+ Giai đoạn 1500-1870 : Đây là giai đoạn khai thác cao su hoang dại. Trước 1500-1700 : Từ trước 1500 đến 1675 cao su thiên nhiên đã được các thổ dân Mêhico và Yacacta dùng để tạo ra các hình tượng và các bức tranh trên giấy bằng vỏ cao su. Trong thời kỳ này cũng ghi nhận có các quả bóng làm bằng cao su đặc được sử dụng với số lượng lớn hàng nghìn cái dùng để trả thuế cho nhà cầm quyền. Thế kỷ 17, người Tây Ban Nha dùng nhựa cây làm áo choàng đi mưa, giầy ống, mui xe ngựa.Tuy nhiên mức độ sử dụng còn rất hạn chế.
1700-1800 : Trong khoảng thời gian này có 2 loại sản phẩm bằng cao su khác nhau : các loại áo mưa sản xuất ở Mêhico và các sản phẩm rỗng làm bằng khuôn đúc tại vùng Amazone-Guiana. Năm 1736 nhà thiên văn vật lý học La Condamine đã mô tả phương pháp sản xuất đuốc, ủng, chai lọ và ống tiêm bằng cao su của người Châu Mỹ tại Ecuador và Brazil. Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng cho đến đầu thế kỷ 19, việc sử dụng mủ cao su vẫn còn hạn chế trong một vài lĩnh vực vật lý, hoá học và dược phẩm. 1800-1870 : Nhà máy chế tạo mủ cao su thành vật dụng đầu tiên được thành lập.
Sử dụng các màng cao su mỏng để chế tạo găng tay, bít tất, áo mưa.Thomas Hancock năm 1820 tại Anh và Charles Macintosh năm 1823 tại Trang 8 Scotland sản xuất áo mưa. Đầu giai đoạn 1830, sự gia tăng các hoạt động kỹ nghệ tại Châu Âu và Châu Mỹ rất cần nguyên liệu các nước trong đó có cao su. Vào các năm 1938-1944, hai nhà kỹ nghệ lớn là Charles Goodyear và Thomas Hancock đã tìm ra phương pháp lưu hoá cao su bằng cách thêm vào chất lưu huỳnh (S). Sản phẩm cao su lưu hoá được dùng để chế tạo bàn ghế, lợi răng giả, dụng cụ bơm và bút máy.
Đây là bước ngoặt rất quan trọng, đánh dấu sự thành công về mặt khoa học cho công nghệ sử dụng cao su thiên nhiên cho đến ngày nay. + Giai đoạn 1870-1914 : Đây là giai đoạn cao su thiên nhiên được di nhập và nhân trồng. Năm 1873, Collin và Markham thu được 2.000 hạt cao su tại Cametta gần cảng Para và đem trồng trong vườn bách thảo Kew (Luân Đôn). Năm 1876, Henry Wickham mang 70.000 hạt cao su từ vùng Rio Tapajoz ở vùng thượng lưu sông Amazone về vườn thực vật Kew (Anh) và có 2.700 hạt nẩy mầm và phát triển thành cây được.
Cùng thời gian ấy Cross thu được 1.000 cây từ vùng bán đảo Para Marajo (hạ lưu sông Amazone) cũng gởi về Kew để trồng. Sau đó vào tháng 9 năm 1876 các cây cao su từ Kew được đưa về Ceylon (Srilanka), một số ít được đưa sang vườn thảo mộc Singapore nhưng kết quả là không còn cây nào sống. Năm 1883, 22 cây cao su sống tại vườn thực vật Ceylon được phân phối để nhân trồng trên thế giới. Diện tích cao su thiên nhiên phát triển mạnh trong những năm đầu thế kỷ 20: năm 1905 toàn thế giới trồng được 52.000 ha, đến năm 1910 được 455.
Từ năm 1900, ngành kỹ nghệ sản xuất vỏ ruột xe phát triển mạnh tạo nên một mức yêu cầu lớn về cao su thiên nhiên. + Giai đoạn 1914-1995 : Mức sản xuất cao su thiên nhiên gia tăng rất nhanh từ 125.000 tấn vào năm 1914 đã đạt được 1.000 tấn vào năm 1934 như vậy là đã tăng gấp 4,4 lần trong vòng 20 năm và đến năm 1914 đã đạt được 1.000 tấn như vậy là đã gia tăng gấp 12 lần sau 27 năm phát triển. Trong những năm 1942 đến 1945 thì có sự sụt giảm nghiêm trọng mức sản xuất cao su thiên nhiên trên thế giới chỉ còn 650.000 tấn, sở dĩ có sự sụt giảm nghiêm trọng như đã nêu trên đó là do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sau giai đoạn bị sụt giảm nghiêm trọng, sản lượng cao su trên thế giới được phục hồi và tăng dần một cách đều đặn.
Tóm lại, đến năm 1995 sau hơn 100 năm di nhập và nhân trồng, cây cao su đã cho sản lượng gần 6 triệu tấn, một kết quả của sự phấn đấu cao độ của các nước trồng cao su trên thế giới và đồng thời cũng là thành quả của các nhà máy « quang tổng hợp » tuyệt vời của cây Hévéa brasiliensis.3 Các giai đoạn phát triển cao su thiên nhiên tại Việt Nam. Cây cao su được Pierre đưa vào Việt Nam năm 1897 và sau đó được bác sĩ Yensin trồng đầu tiên ở Việt Nam tại Suối Dầu (Nha Trang). Nhận thức được tầm quan trọng của cây cao su trong đời sống kinh tế, xã hội và đồng thời trong tác động cải tạo môi sinh, môi trường nên Thủ Tướng Chính Phủ đã phê duyệt tổng quan phát triển cao su sẽ đạt được diện tích 700. 1920-1945 : Các công ty tư bản Pháp đã đầu tư trồng cây cao su mạnh ở Việt Nam.
Đến năm 1945 đạt được diện tích 138.000 ha với sản lượng 77. Như vậy, tốc độ phát triển bình quân của 25 năm này là 5. 1945-1960 : Do ảnh hưởng của chiến tranh, tư bản Pháp chuyển dần tài sản sang Campuchia, Indonesia và Châu Phi nên diện tích cao su ngừng phát triển và thu hẹp lại. Từ năm 1955 tư bản Pháp tiếp tục mở rộng cao su đồng thời chính quyền Sài Gòn tham gia tổ chức hiệp hội các nước trồng cao su quốc tế và học tập kinh nghiệm các nước Đông Nam Á.
Tính đến cuối năm 1960 tổng diện tích cao su Việt Nam còn được 142.000 ha và sản lượng cao nhất là 79. 1961-1975 : Do ảnh hưởng của chiến tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam, Pháp lại rút vốn đầu tư sang các nước khác thu hẹp diện tích ở Việt Nam. Đến năm 1975, tổng diện tích cao su được tư bản Pháp khai thác chỉ còn khoảng 25.000 ha so với sản lượng cao nhất là 21. 1975-1995 : Sau khi tiếp quản nguyên trạng cao su vào năm 1975, nhận thức được tầm quan trọng của cây cao su nên Nhà Nước Việt Nam đã triển khai các chương trình khôi phục và phát triển ngành cao su thiên nhiên.
Qua quá trình khôi phục và phát triển, đến cuối năm 1996 ngành cao su do Tổng công ty cao su quản lý đạt được : Quy mô quản lý : gồm 30 đơn vị thành viên trong đó các công ty sản xuất gồm 18 công ty : 10 công ty tại vùng Đông Nam Bộ (tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh), 07 công ty vùng Tây Nguyên (tỉnh Pleiku, Darlak và Kontum) và 01 công ty ở tỉnh Quảng Trị. Ngoài ra, còn có các công ty dịch vụ và phục vụ, 01 Viện nghiên cứu và 01 trường đào tạo. Diện tích : Tổng diện tích cao su cả nước khoảng 288.236 ha, Tổng công ty cao su quản lý 188.943 ha, diện tích còn lại (khoảng 100.000 ha) là cao su quốc doanh do địa phương quản lý và cao su tư nhân. Trong những năm 1996, Tổng công ty đã khai thác được 129.638 ha đạt sản lượng 131.
Như vậy, đạt năng suất trung bình là 1012 kg/ha. Năm 1997, dự kiến khai thác trên 140.000 ha với tổng sản lượng khoảng 144. Chế biến : Tổng công ty có tất cả 26 nhà máy chế biến cao su với tổng công suất khoảng 170. Hầu hết là sản phẩm mủ khối với chất lượng sản phẩm Trang 10 thuộc loại chất lượng cao : 90% được xếp hạng SVRL và SVR5, ngoài ra còn có một phần nhỏ được chế biến dưới dạng mủ kem (mủ ly tâm).451 tấn mủ cao su.
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, thực dân Pháp đã bắt tay xây dựng các đồn điền và nhà máy sơ chế cao su ở Đông Dương. Năm 1940 Viện nghiên cứu cao su Đông Dương được thành lập, sản lượng hàng năm của Đông Dương là 64. Đến năm 1966 sản lượng của Việt Nam là 48. [5] Tổng số lao động hiện có 83.626 người, trong đó lao động nữ là 39.
Theo thống kê tai nạn từ năm 1995 đến 06 tháng đầu năm 2004 trong ngành cao su đã có 1.053 vụ tai nạn lao động. [6] Trong đó: TNLĐ nhẹ : chiếm 79% TNLĐ nặng: chiếm 17,6% TNLĐ chết người: chiếm 3,32% Ngoài ra ngành này còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, đặc biệt là nguồn nước thải. Đóng góp của ngành không ngừng tăng lên, năm 2000 là 4. Với tốc độ tăng trưởng như trên thì việc đa dạng hoá sản phẩm là điều tất yếu.
Hiện nay các sản phẩm cao su rất phong phú và đa dạng được sử dụng hầu hết trong các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội, an ninh - quốc phòng. Mủ cao su 2. Công tác BHLĐ trong ngành công nghiệp cao su Từ trước đến nay cao su vẫn được coi là ngành có nhiều yếu tố nguy hiểm, độc hại đối với người lao động. Vì vậy công tác BHLĐ cần được đặc biệt quan tâm nhằm hạn chế, loại bỏ những tai nạn, bệnh tật có thể xảy ra với người lao động.