CHƯƠNG I TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM 7 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM CHƢƠNG I. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 QUA SỐ LIỆU THỐNG KÊ Theo Cục Chăn nuôi, mục tiêu phát triển chăn nuôi giai đoạn 2009 - 2015 là đƣa tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 38%; tốc độ tăng trƣởng đạt 6 - 7%/năm; sản lƣợng thịt xẻ các loại đạt 4,3 triệu tấn, trong đó thịt lợn chiếm 65%, gia cầm 31%, thịt trâu, bò 3%; trứng đạt 11 tỷ quả; sữa 700 ngàn tấn; bình quân đầu ngƣời đạt 46 kg thịt xẻ các loại/năm, trứng 116 quả/năm, sữa 7,5 kg/năm; tỷ trọng thịt đƣợc giết mổ, chế biến công nghiệp đạt khoảng 25%. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp và giá trị sản xuất các ngành chăn nuôi Bảng 1.
Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế theo ngành hoạt động (tỷ VNĐ) Chia ra Năm Tổng số Trồng trọt Chăn nuôi* Dịch vụ 2000 129140.40 *số trong ngoặc đơn là tỷ lệ so với tổng số (%) Trong giai đoạn 2000-2008, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng nhanh hàng năm (22,62%), ngành chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt (36,51 so với 19,6%). Những năm gần đây (2005- 2008), giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng nhanh so giai đoạn 2000-2004 (24-27 so với 19- 21%/năm). Dự kiến năm 2008, giá trị sản xuất chăn nuôi đạt gần 98 nghìn tỷ VNĐ, chiếm 27% tổng sản xuất ngành nông nghiệp. Nhƣ vậy để có con số 38%, ngành chăn nuôi phải phấn đấu tích cực hơn trong giai đoạn mới.
Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi theo giá so sánh 1994 phân theo vật nuôi và loại sản phẩm (tỷ VNĐ) Trong đó Năm Tổng số Gia súc Gia cầm SP không qua giết thịt 2000 18505.18 8 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM *Tỷ lệ so với tổng số (%) Số liệu ở bảng 2 cho thấy rằng, tổng giá trị sản xuất chăn nuôi (tính theo giá so sánh 1994) tăng 8,4% hàng năm (cao hơn dự kiến của Cục CN giai đoạn 2009-2015), trong đó sản phẩm từ gia súc tăng nhanh hơn gia cầm (10,34 vs 4,17%). Điều này đúng với thực tế đã diễn ra vì ảnh hƣởng của bệnh cúm gia cầm xảy ra 2004-2005. Số lƣợng vật nuôi và sản phẩm chăn nuôi Bảng 3.
Biến động số lƣợng vật nuôi 2000-2008 (ngàn con) Gia cầm Năm Trâu Bò Lợn Ngựa Dê, cừu (Triệu con) 2000 2897.0 6,69 4,03 -0,54 21,59 3,26 Số liệu ở bảng 3 cho thấy, ngoại trừ trâu và ngựa, số lƣợng các loại vật nuôi còn lại đều tăng hàng năm (3,26-21,59%). Theo đó số lƣợng dê, cừu tăng nhanh nhất (21,59% năm). Đàn dê, cừu tăng là tín hiệu tốt cho ngƣời chăn nuôi nhƣng các nhà hoạch định chính sách cần quan tâm để có sự phát triển một cách bền vững. Đàn lợn và bò tăng đều qua các năm, mặc dù dịch bệnh (lỡ mồm- long móng, tai xanh.
Đàn gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn 2000-2003 (9,5%/năm) và giảm nhanh do dịch cúm đã xảy ra năm 2004. Dự kiến đến 2008, đàn gia cầm vẫn chƣa phục hồi so với trƣớc khi có dịch (97% so với 2003). Phân bố đàn gia súc theo vùng sinh thái nông nghiệp năm 2007 (%) Lợn Trâu Bò Gia cầm Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) 27,3 5,9 12,2 28,4 Trung du, miền núi phía Bắc (MNB) 20,9 56,6 16,2 22,9 Duyên hải miền Trung (DHMT) 23,2 31,1 42,0 22,1 Tây nguyên (TN) 5,5 2,8 11,2 3,6 Đông Nam bộ (ĐNB) 8,9 2,3 8,1 5,4 Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBCL) 14,2 1,3 10,3 17,6 Số liệu ở bảng 4 cho thấy, phần lớn vật nuôi phân bố tập trung ở phía Bắc và duyên hải miền trung. Hơn 50% gia cầm tập trung khu vực phía Bắc (Đồng bằng sông Hồng và Nam bộ), và Duyên hải miền trung và ĐBCL chiếm gần 40% số gia cầm cả nƣớc.
Phân bố tƣơng tự cũng xãy ra với đàn lợn, với gần 50% tổng đàn ở phía Bắc và gần 40% tập trung ở DHMT và ĐBCL. Đại gia súc tập trung chủ yếu ở Nam bộ và DHMT (58,2% đối với bò, 87,7% đối với trâu). Sản lƣợng sản phẩm chủ yếu của ngành chăn nuôi Sản Sản Sản Sản Sản Trứng Sản Sản Năm lƣợng lƣợng lƣợng lƣợng lƣợng gia lƣợng lƣợng 9 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM thịt trâu thịt sữa thịt lợn thịt cầm mật kén hơi xuất bò hơi tƣơi hơi xuất gia ong tằm chuồng xuất chuồng cầm chuồng hơi giết, bán Ngàn Ngàn Triệu Đơn vị Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn tấn tấn quả 2000 48415 93819 51458 1418.
Sản lƣợng sữa tăng nhanh trong giai đoạn 2000-2007. Mặc dù số lƣợng bò và lợn tăng hàng năm thấp (4-7%) nhƣng sản lƣợng thịt hơi tăng hàng năm của các nhóm này rất cao (17,75% đối với bò, 11,88% đối với lợn). Điều này cho thấy chất lƣợng (khối lƣợng bán ra) đàn lợn và bò tăng. Số lƣợng gia cầm giảm trong giai đoạn 2004- 2008 và vì vậy, sản lƣợng trứng và thịt gia cầm giảm theo.
Tuy nhiên tính chung cả kỳ, sản lƣợng trứng và thịt gia cầm vẫn tăng (3,88 và 5,25%, tƣơng ứng). Sản lƣợng sản phẩm chăn nuôi tính theo đầu ngƣời hàng năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Dự kiến 2008 Dân số (triệu 77,64 78,69 79,73 80,90 82,03 83,11 84,14 85,17 86,21 ngƣời) Sản lƣợng thịt trâu hơi xuất 0.83 chuồng (kg) Sản lƣợng thịt bò hơi xuất 1.64 chuồng (kg) Sản lƣợng sữa 0.04 tƣơi (kg) Sản lƣợng thịt lợn hơi xuất 18.14 chuồng (kg) Sản lƣợng thịt gia cầm hơi giết, 3.84 bán (kg) Trứng gia cầm 48.27 (quả) 10 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM Sản lƣợng sản phẩm chăn nuôi tính trên đầu ngƣời tăng dần ngoại trừ trứng gia cầm (Bảng 6). Sản lƣợng thịt lợn hơi chiếm tỷ lệ gần 75% tổng lƣợng thịt sản xuất ra tính theo đầu ngƣời.
Năm 2007, sản lƣợng thịt hơi sản xuất ra trên đầu ngƣời 38,7kg, 2,75 kg sữa tƣơi và 2,6 kg trứng và ƣớc tính năm 2008, tƣơng ứng là 40,5kg, 3,04 kg và 57,27 quả. Nếu tính 100% sản phẩm tiêu thụ nội địa thì mỗi ngƣời Việt Nam tiêu thụ khoảng 40 kg thịt hơi, 3 kg sữa và 3 kg trứng hàng năm. Nếu quy đổi từ thịt hơi sang thịt tinh (trâu 30%, bò 35%, lợn 60%, gia cầm 35%) thì một ngƣời tiêu thụ khoảng 19-20kg thịt hàng năm. Nhƣ vậy, ngành chăn nuôi cần phải có chiến lƣợc tốt hơn để đạt đƣợc con số 46kg thịt xẻ và 116 quả trứng cho một ngƣời mỗi năm.
Kết luận Nhìn từ góc độ những con số về phát triển chăn nuôi giai đoạn 2000-2008, chúng ta thấy rằng phải có những chính sách phát triển ngành và biện pháp cụ thể mới đạt đƣợc mục tiêu mà Cục Chăn nuôi đã đƣa ra cho giai đoạn 2009-2015. Trƣớc hết, chính sách về đầu tƣ, tín dụng, đất đai và thuế là hết sức quan trọng. Tiếp theo, sự hợp tác của ngƣời chăn nuôi để đủ sức đƣơng đầu với chất lƣợng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm, các loại dịch bệnh ngày càng phát triển phức tạp và với sự cạnh tranh "sống còn" khi thị trƣờng tự do thƣơng mại mở rộng. Nông dân chăn nuôi nhỏ cũng đã đến lúc phải thay đổi tƣ duy kinh tế, thay đổi cung cách làm ăn, cần phải sớm hình thành những tổ chức phù hợp và có sự liên kết bền chặt hơn trong mối quan hệ "nhiều nhà".
Trong đó, các nhà khoa học sẽ hỗ trợ tối đa KHKT, ngân hàng và các tổ chức tín dụng sẽ cung ứng hoặc điều tiết kịp thời cơ cấu vốn đầu tƣ, nhà doanh nghiệp sẽ đảm nhiệm các khâu quan trọng về cung cấp vật tƣ và đảm bảo đầu ra… Nhà nƣớcphải thể hiện vai trò tổ chức, quản lý theo luật định và giám sát các khâu công việc của tất cả "các nhà" có mối liên kết nêu trên. 11 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM CHƯƠNG II TÌNH HÌNH NHẬP KHẨUTHỨC ĂN CHĂN NUÔI & NGUYÊN LIỆU 12 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM CHƢƠNG II.
TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU NGUYÊN LIỆU – THỨC ĂN CHĂN NUÔI Theo đánh giá của Cục Quản lý cạnh tranh, những khó khăn mà các doanh nghiệp trong ngành đang gặp phải là do nƣớc ta còn thiếu các ngành công nghiệp mạng lƣới để hỗ trợ cho sản xuất thức ăn chăn nuôi nhƣ ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu thô cũng nhƣ công nghiệp phụ trợ cho chế biến. Mặc dù sản lƣợng thức ăn chăn nuôi của nƣớc ta tăng đều qua các năm nhƣng vẫn không đáp ứng Hình 1. Trang trại chăn nuôi gà công đủ nhu cầu trong nƣớc. nghiệp Với quy mô thị trƣờng lên tới gần 60.000 tỷ đồng/năm, nhƣng do sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nƣớc mới chỉ đáp ứng đƣợc khoảng 50% nhu cầu, nên lƣợng nhập khẩu mặt hàng này hàng năm vẫn rất lớn.
Số liệu thống kê của Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam cho thấy, cả nƣớc hiện có 256 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Trong đó có 225 doanh nghiệp có nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm. Số còn lại là các doanh nghiệp chỉ kinh doanh thƣơng mại mặt hàng này. Năm 2008, tổng doanh thu của toàn ngành là khoảng 50.000 tỷ, sang năm 2009 con số này đã là gần 60.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) thì sản xuất trong nƣớc tăng nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu thụ. Cơ quan này còn dự báo nhu cầu về thức ăn chăn nuôi của thị trƣờng nội địa trong giai đoạn 2009-2020 sẽ tăng khoảng 8-9%/năm. Nhƣng theo uớc tính sản lƣợng thức ăn chăn nuôi của toàn ngành năm 2010 cũng chỉ là 10,6 triệu tấn và năm 2011 là 11,3 triệu tấn. Nhƣ vậy, hàng năm lƣợng thiếu hụt vào khoảng 4-5 triệu tấn.
Để đáp ứng nhu cầu trên thị trƣờng, trong một vài năm tới dự kiến giá trị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi vẫn khoảng từ 300- 400 triệu USD/năm. Nguyên nhân khiến ngành này đã và vẫn tiếp tục phải nhập khẩu với giá trị lớn đƣợc chỉ ra trong Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nƣớc ta do Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thƣơng) tiến hành là vì lƣợng cung thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nƣớc mới chỉ đáp ứng đƣợc 50% nhu cầu.