Đồ án: Tổng quan nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam

Tài liệu tổng quan nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam, phân tích số liệu thống kê, công nghệ chế biến và các thành phần dinh dưỡng.

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu luận

2010

79
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tình Hình Phát Triển Chăn Nuôi Việt Nam

Ngành chăn nuôi Việt Nam đã trải qua những thay đổi đáng kể trong giai đoạn 2000-2008. Theo thống kê từ Cục Chăn nuôi, mục tiêu phát triển chăn nuôi giai đoạn 2009-2015 là nâng tỷ trọng ngành lên 38% trong nông nghiệp, với tốc độ tăng trưởng 6-7% hàng năm. Sản lượng thịt các loại dự kiến đạt 4,3 triệu tấn, trong đó thịt lợn chiếm 65%, gia cầm 31%, thịt trâu bò 3%. Bên cạnh đó, sản lượng trứng ước tính 11 tỷ quả, sữa 700 nghìn tấn. Bình quân đầu người sẽ đạt 46 kg thịt/năm, 116 quả trứng/năm, và 7,5 kg sữa/năm. Những con số này phản ánh tiềm năng lớn của ngành chăn nuôi trong việc đáp ứng nhu cầu lương thực cho dân số ngày càng tăng.

1.1. Biến Động Đàn Gia Súc

Số lượng gia súc tại Việt Nam có biến động đáng chú ý từ năm 2000-2008. Phân bố đàn gia súc theo vùng sinh thái nông nghiệp năm 2007 cho thấy sự phân tán không đều về mặt địa lý. Các vùng nông nghiệp khác nhau có nhu cầu và điều kiện nuôi dưỡng khác nhau, ảnh hưởng đến cơ cấu và quy mô chăn nuôi của từng khu vực.

1.2. Giá Trị Sản Xuất Ngành

Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi Việt Nam đạt mức cao, phản ánh tầm quan trọng kinh tế. Sản lượng sản phẩm chủ yếu bao gồm thịt, trứng, sữa, lông và các phụ phẩm khác. Tính theo đầu người hàng năm, mỗi chỉ tiêu đều thể hiện sự phát triển ổn định của ngành chăn nuôi Việt Nam.

II. Nguồn Nguyên Liệu Thức Ăn Chăn Nuôi

Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam bao gồm nhiều loại từ nông sản đến các phụ phẩm công nghiệp. Các cây thức ăn xanh phổ biến như rau muống, bèo hoa dâu, bèo tấm cánh nhỏ mọc dưới nước và trên cạn được sử dụng rộng rãi. Khoai lang, sắn, ngô là những nguồn carbohydrate chính. Đậu tương và các sản phẩm từ đậu cung cấp protein chất lượng cao. Lạc (đậu phộng) cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng. Ngoài ra, phụ phẩm chế biến thủy sản như bột cá, bã bia từ hạt ngũ cốc, và rỉ mật là những nguồn tăng bổ sung giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu thức ăn vẫn chiếm phần lớn nhu cầu của ngành.

2.1. Nguyên Liệu Từ Cây Thức Ăn Xanh

Cây thức ăn xanh như rau muống chứa thành phần dinh dưỡng tốt với tỷ lệ protein và chất khoáng cao. Bèo nước là nguồn thức ăn giá rẻ, phong phú, dễ nuôi cấy. Các loại cây này cung cấp vitamin, chất xơ và các dưỡng chất thiết yếu cho gia súc, đặc biệt là động vật nhai lại.

2.2. Nguyên Liệu Từ Cây Lâm Nghiệp và Hạt

Khoai lang, sắn, ngô là các cây lâm nghiệp cung cấp năng lượng. Đậu tương và lạc chứa lượng protein cao (35-40%). Thành phần hóa học của những cây này rất giàu mỡ, protein và carbohydrate, làm chúng trở thành thức ăn bổ dưỡng chính cho chăn nuôi.

III. Công Nghệ Sơ Chế Nguyên Liệu

Công nghệ sơ chế nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là bước quan trọng để tăng giá trị dinh dưỡng và bảo quản. Quy trình sản xuất bột cá từ hỗn hợp nhiều loại cá tạp được áp dụng ở quy mô nhỏ. Công nghệ chế biến bột thịt xương qua máy nghiền búa tạo ra sản phẩm có giá trị cao. Quy trình sản xuất bột khoai mìchế biến bã khoai mì giúp tận dụng tối đa phụ phẩm. Công nghệ sản xuất thức ăn cho baba được tiêu chuẩn hóa. Bột máu gia súcbột lá sắn là những sản phẩm giàu protein. Sản xuất bắp xay cung cấp protein bổ sung. Các quy trình này không chỉ cải thiện tính khả dụng mà còn giảm chi phí sản xuất.

3.1. Sơ Chế Sản Phẩm Thuỷ Hải Sản

Công nghệ sản xuất bột cá chăn nuôi từ hỗn hợp cá tạp là nguồn protein chất lượng cao. Phụ phẩm chế biến tôm sau khi xử lý tạo ra sản phẩm giàu axit amin thiết yếu. Những sản phẩm này cung cấp chất lượng bột cá theo quy định quốc tế.

3.2. Sơ Chế Sản Phẩm Từ Ngô và Ngũ Cốc

Quy trình chế biến bã bia từ hạt ngũ cốc cung cấp dinh dưỡng cho chăn nuôi với giá thành thấp. Bã bia chứa chất xơ caoprotein trung bình. Hạt tấm gạo và các phụ phẩm chế biến gạo là thức ăn bổ sung giá rẻ cho gia súc.

IV. Chất Độc Hại trong Thức Ăn Chăn Nuôi

Chất độc hại trong thức ăn chăn nuôi là mối quan tâm lớn đối với sức khỏe gia súc. Axit amin phi protein như canavanine, indospicine, homoarginine tìm thấy trong một số cây công nghiệp. Axit hydrocyanic (HCN) từ lá sắnkhoai lang có nồng độ cao, ảnh hưởng đến sức khỏe gia súc. Aflatoxin trong ngô và một số thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam là mối đe dọa, thay đổi theo mùa ở các tỉnh phía Nam. Mimosine từ cây ngũ gia pi độc hại với tiêu hóa. Chất goitrin gây bệnh cường giáp. Các phương pháp chế biến như luộc, cơm hoặc sấy khô có thể giảm nồng độ chất độc. Việc kiểm soát chất lượng nguyên liệuphương pháp xử lý là cần thiết.

4.1. Axit Hydrocyanic và Cyanide

HCN phân bố trong sắn củlá sắn (mg/100g tươi) ở nồng độ nguy hiểm. Phương pháp chế biến như luộc, nước sôi hoặc lên men giảm hàm lượng HCN. Phương pháp làm khô ảnh hưởng đến nồng độ HCN trong bột lá sắn. Chuyển hoá cyanogenesis trong cơ thể động vật có thể gây độc.

4.2. Aflatoxin và Các Chất Gây Nấm Mốc

Hàm lượng aflatoxin trong thức ăn gia súc ở Việt Nam vượt quá tiêu chuẩn an toàn. Aflatoxin thay đổi theo mùa ở các tỉnh phía Nam, cao nhất vào mùa mưa. Kiểm soát chất lượng nguyên liệu và bảo quản đúng cách là cách phòng ngừa chính hiệu quả.

21/12/2025
Đồ án tổng quan nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM 7 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM CHƢƠNG I. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 QUA SỐ LIỆU THỐNG KÊ Theo Cục Chăn nuôi, mục tiêu phát triển chăn nuôi giai đoạn 2009 - 2015 là đƣa tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 38%; tốc độ tăng trƣởng đạt 6 - 7%/năm; sản lƣợng thịt xẻ các loại đạt 4,3 triệu tấn, trong đó thịt lợn chiếm 65%, gia cầm 31%, thịt trâu, bò 3%; trứng đạt 11 tỷ quả; sữa 700 ngàn tấn; bình quân đầu ngƣời đạt 46 kg thịt xẻ các loại/năm, trứng 116 quả/năm, sữa 7,5 kg/năm; tỷ trọng thịt đƣợc giết mổ, chế biến công nghiệp đạt khoảng 25%. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp và giá trị sản xuất các ngành chăn nuôi Bảng 1.

Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế theo ngành hoạt động (tỷ VNĐ) Chia ra Năm Tổng số Trồng trọt Chăn nuôi* Dịch vụ 2000 129140.40 *số trong ngoặc đơn là tỷ lệ so với tổng số (%) Trong giai đoạn 2000-2008, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng nhanh hàng năm (22,62%), ngành chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt (36,51 so với 19,6%). Những năm gần đây (2005- 2008), giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng nhanh so giai đoạn 2000-2004 (24-27 so với 19- 21%/năm). Dự kiến năm 2008, giá trị sản xuất chăn nuôi đạt gần 98 nghìn tỷ VNĐ, chiếm 27% tổng sản xuất ngành nông nghiệp. Nhƣ vậy để có con số 38%, ngành chăn nuôi phải phấn đấu tích cực hơn trong giai đoạn mới.

Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi theo giá so sánh 1994 phân theo vật nuôi và loại sản phẩm (tỷ VNĐ) Trong đó Năm Tổng số Gia súc Gia cầm SP không qua giết thịt 2000 18505.18 8 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM *Tỷ lệ so với tổng số (%) Số liệu ở bảng 2 cho thấy rằng, tổng giá trị sản xuất chăn nuôi (tính theo giá so sánh 1994) tăng 8,4% hàng năm (cao hơn dự kiến của Cục CN giai đoạn 2009-2015), trong đó sản phẩm từ gia súc tăng nhanh hơn gia cầm (10,34 vs 4,17%). Điều này đúng với thực tế đã diễn ra vì ảnh hƣởng của bệnh cúm gia cầm xảy ra 2004-2005. Số lƣợng vật nuôi và sản phẩm chăn nuôi Bảng 3.

Biến động số lƣợng vật nuôi 2000-2008 (ngàn con) Gia cầm Năm Trâu Bò Lợn Ngựa Dê, cừu (Triệu con) 2000 2897.0 6,69 4,03 -0,54 21,59 3,26 Số liệu ở bảng 3 cho thấy, ngoại trừ trâu và ngựa, số lƣợng các loại vật nuôi còn lại đều tăng hàng năm (3,26-21,59%). Theo đó số lƣợng dê, cừu tăng nhanh nhất (21,59% năm). Đàn dê, cừu tăng là tín hiệu tốt cho ngƣời chăn nuôi nhƣng các nhà hoạch định chính sách cần quan tâm để có sự phát triển một cách bền vững. Đàn lợn và bò tăng đều qua các năm, mặc dù dịch bệnh (lỡ mồm- long móng, tai xanh.

Đàn gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn 2000-2003 (9,5%/năm) và giảm nhanh do dịch cúm đã xảy ra năm 2004. Dự kiến đến 2008, đàn gia cầm vẫn chƣa phục hồi so với trƣớc khi có dịch (97% so với 2003). Phân bố đàn gia súc theo vùng sinh thái nông nghiệp năm 2007 (%) Lợn Trâu Bò Gia cầm Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) 27,3 5,9 12,2 28,4 Trung du, miền núi phía Bắc (MNB) 20,9 56,6 16,2 22,9 Duyên hải miền Trung (DHMT) 23,2 31,1 42,0 22,1 Tây nguyên (TN) 5,5 2,8 11,2 3,6 Đông Nam bộ (ĐNB) 8,9 2,3 8,1 5,4 Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBCL) 14,2 1,3 10,3 17,6 Số liệu ở bảng 4 cho thấy, phần lớn vật nuôi phân bố tập trung ở phía Bắc và duyên hải miền trung. Hơn 50% gia cầm tập trung khu vực phía Bắc (Đồng bằng sông Hồng và Nam bộ), và Duyên hải miền trung và ĐBCL chiếm gần 40% số gia cầm cả nƣớc.

Phân bố tƣơng tự cũng xãy ra với đàn lợn, với gần 50% tổng đàn ở phía Bắc và gần 40% tập trung ở DHMT và ĐBCL. Đại gia súc tập trung chủ yếu ở Nam bộ và DHMT (58,2% đối với bò, 87,7% đối với trâu). Sản lƣợng sản phẩm chủ yếu của ngành chăn nuôi Sản Sản Sản Sản Sản Trứng Sản Sản Năm lƣợng lƣợng lƣợng lƣợng lƣợng gia lƣợng lƣợng 9 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM thịt trâu thịt sữa thịt lợn thịt cầm mật kén hơi xuất bò hơi tƣơi hơi xuất gia ong tằm chuồng xuất chuồng cầm chuồng hơi giết, bán Ngàn Ngàn Triệu Đơn vị Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn tấn tấn quả 2000 48415 93819 51458 1418.

Sản lƣợng sữa tăng nhanh trong giai đoạn 2000-2007. Mặc dù số lƣợng bò và lợn tăng hàng năm thấp (4-7%) nhƣng sản lƣợng thịt hơi tăng hàng năm của các nhóm này rất cao (17,75% đối với bò, 11,88% đối với lợn). Điều này cho thấy chất lƣợng (khối lƣợng bán ra) đàn lợn và bò tăng. Số lƣợng gia cầm giảm trong giai đoạn 2004- 2008 và vì vậy, sản lƣợng trứng và thịt gia cầm giảm theo.

Tuy nhiên tính chung cả kỳ, sản lƣợng trứng và thịt gia cầm vẫn tăng (3,88 và 5,25%, tƣơng ứng). Sản lƣợng sản phẩm chăn nuôi tính theo đầu ngƣời hàng năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Dự kiến 2008 Dân số (triệu 77,64 78,69 79,73 80,90 82,03 83,11 84,14 85,17 86,21 ngƣời) Sản lƣợng thịt trâu hơi xuất 0.83 chuồng (kg) Sản lƣợng thịt bò hơi xuất 1.64 chuồng (kg) Sản lƣợng sữa 0.04 tƣơi (kg) Sản lƣợng thịt lợn hơi xuất 18.14 chuồng (kg) Sản lƣợng thịt gia cầm hơi giết, 3.84 bán (kg) Trứng gia cầm 48.27 (quả) 10 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM Sản lƣợng sản phẩm chăn nuôi tính trên đầu ngƣời tăng dần ngoại trừ trứng gia cầm (Bảng 6). Sản lƣợng thịt lợn hơi chiếm tỷ lệ gần 75% tổng lƣợng thịt sản xuất ra tính theo đầu ngƣời.

Năm 2007, sản lƣợng thịt hơi sản xuất ra trên đầu ngƣời 38,7kg, 2,75 kg sữa tƣơi và 2,6 kg trứng và ƣớc tính năm 2008, tƣơng ứng là 40,5kg, 3,04 kg và 57,27 quả. Nếu tính 100% sản phẩm tiêu thụ nội địa thì mỗi ngƣời Việt Nam tiêu thụ khoảng 40 kg thịt hơi, 3 kg sữa và 3 kg trứng hàng năm. Nếu quy đổi từ thịt hơi sang thịt tinh (trâu 30%, bò 35%, lợn 60%, gia cầm 35%) thì một ngƣời tiêu thụ khoảng 19-20kg thịt hàng năm. Nhƣ vậy, ngành chăn nuôi cần phải có chiến lƣợc tốt hơn để đạt đƣợc con số 46kg thịt xẻ và 116 quả trứng cho một ngƣời mỗi năm.

Kết luận Nhìn từ góc độ những con số về phát triển chăn nuôi giai đoạn 2000-2008, chúng ta thấy rằng phải có những chính sách phát triển ngành và biện pháp cụ thể mới đạt đƣợc mục tiêu mà Cục Chăn nuôi đã đƣa ra cho giai đoạn 2009-2015. Trƣớc hết, chính sách về đầu tƣ, tín dụng, đất đai và thuế là hết sức quan trọng. Tiếp theo, sự hợp tác của ngƣời chăn nuôi để đủ sức đƣơng đầu với chất lƣợng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm, các loại dịch bệnh ngày càng phát triển phức tạp và với sự cạnh tranh "sống còn" khi thị trƣờng tự do thƣơng mại mở rộng. Nông dân chăn nuôi nhỏ cũng đã đến lúc phải thay đổi tƣ duy kinh tế, thay đổi cung cách làm ăn, cần phải sớm hình thành những tổ chức phù hợp và có sự liên kết bền chặt hơn trong mối quan hệ "nhiều nhà".

Trong đó, các nhà khoa học sẽ hỗ trợ tối đa KHKT, ngân hàng và các tổ chức tín dụng sẽ cung ứng hoặc điều tiết kịp thời cơ cấu vốn đầu tƣ, nhà doanh nghiệp sẽ đảm nhiệm các khâu quan trọng về cung cấp vật tƣ và đảm bảo đầu ra… Nhà nƣớcphải thể hiện vai trò tổ chức, quản lý theo luật định và giám sát các khâu công việc của tất cả "các nhà" có mối liên kết nêu trên. 11 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM CHƯƠNG II TÌNH HÌNH NHẬP KHẨUTHỨC ĂN CHĂN NUÔI & NGUYÊN LIỆU 12 SVTH: NguyÔn Lª Thµnh Minh – MSSV 60701466 Tæng Quan Nguån Nguyªn LiÖu Thøc ¡n Ch¨n Nu«i T¹i ViÖt Nam GVHD: TS. TRÇN BÝCH LAM CHƢƠNG II.

TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU NGUYÊN LIỆU – THỨC ĂN CHĂN NUÔI Theo đánh giá của Cục Quản lý cạnh tranh, những khó khăn mà các doanh nghiệp trong ngành đang gặp phải là do nƣớc ta còn thiếu các ngành công nghiệp mạng lƣới để hỗ trợ cho sản xuất thức ăn chăn nuôi nhƣ ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu thô cũng nhƣ công nghiệp phụ trợ cho chế biến. Mặc dù sản lƣợng thức ăn chăn nuôi của nƣớc ta tăng đều qua các năm nhƣng vẫn không đáp ứng Hình 1. Trang trại chăn nuôi gà công đủ nhu cầu trong nƣớc. nghiệp Với quy mô thị trƣờng lên tới gần 60.000 tỷ đồng/năm, nhƣng do sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nƣớc mới chỉ đáp ứng đƣợc khoảng 50% nhu cầu, nên lƣợng nhập khẩu mặt hàng này hàng năm vẫn rất lớn.

Số liệu thống kê của Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam cho thấy, cả nƣớc hiện có 256 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Trong đó có 225 doanh nghiệp có nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm. Số còn lại là các doanh nghiệp chỉ kinh doanh thƣơng mại mặt hàng này. Năm 2008, tổng doanh thu của toàn ngành là khoảng 50.000 tỷ, sang năm 2009 con số này đã là gần 60.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) thì sản xuất trong nƣớc tăng nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu thụ. Cơ quan này còn dự báo nhu cầu về thức ăn chăn nuôi của thị trƣờng nội địa trong giai đoạn 2009-2020 sẽ tăng khoảng 8-9%/năm. Nhƣng theo uớc tính sản lƣợng thức ăn chăn nuôi của toàn ngành năm 2010 cũng chỉ là 10,6 triệu tấn và năm 2011 là 11,3 triệu tấn. Nhƣ vậy, hàng năm lƣợng thiếu hụt vào khoảng 4-5 triệu tấn.

Để đáp ứng nhu cầu trên thị trƣờng, trong một vài năm tới dự kiến giá trị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi vẫn khoảng từ 300- 400 triệu USD/năm. Nguyên nhân khiến ngành này đã và vẫn tiếp tục phải nhập khẩu với giá trị lớn đƣợc chỉ ra trong Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nƣớc ta do Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thƣơng) tiến hành là vì lƣợng cung thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nƣớc mới chỉ đáp ứng đƣợc 50% nhu cầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ