CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Giới thiệu chung về TiO2 1. Cấu trúc của TiO2 TiO2 có 3 pha tinh thể là rutile, anatase và brookite.
Trong đó, rutile là dạng bền, anatase và brookite là dạng giả bền và dần chuyển sang pha rutile khi nung ở nhiệt độ cao (khoảng trên 750 oC) [30]. Cấu trúc tinh thể pha (a) rutile, (b) anatase và (c) brookite của TiO2 [30] Rutile là dạng phổ biến nhất thường tồn tại trong tự nhiên, trong đó nguyên tử titanium phối trí với oxygen theo kiểu bát diện. Tinh thể TiO2 pha rutile và anatase đều có cấu trúc tứ giác (tetragonal) và được tạo thành từ các phối trí bát diện (octahedral), đây là kiến trúc điển hình của hợp chất có công thức dạng MX2 [25]. Cấu trúc bát diện TiO6 (a) và sự sắp xếp không gian trong ô mạng cơ sở của pha anatase (b), rutile (c), brookite (d) [30] 5 Hình 1.2 mô tả cấu trúc không gian của các đa diện phối trí cho các pha khác nhau của TiO2.
Trong một ô cơ sở của pha tinh thể anatase có 4 ion Ti4+ và 7 ion O2-. Mỗi bát diện tiếp giáp với 8 bát diện lân cận (4 bát diện chung cạnh và bốn bát diện chung góc - Hình 1. Trong một ô cơ sở của tinh thể rutile có hai ion Ti4+ và 4 ion O2-. Các bát diện titanium oxide sắp xếp thành các chuỗi đối xứng bậc 4 với các cạnh chung nhau, mỗi bát diện tiếp giáp với 10 bát diện lân cận (4 bát diện chung cạnh và bát diện chung góc - Hình 1.
Như vậy có thể thấy, tinh thể TiO2 pha anatase khuyết nguyên tử oxygen nhiều hơn pha rutile và điều này ảnh hưởng đến một số tính chất vật lí của vật liệu TiO2 ở các dạng thù hình khác nhau. Cấu trúc của các đa diện trong các pha tinh thể của TiO2 có sự khác nhau, sự biến dạng đó có xu hướng làm giảm tính đối xứng của tinh thể. Khoảng cách Ti – Ti trong tinh thể TiO2 ở pha anatase (3,79Å) lớn hơn trong pha rutile (3,57 Å) còn khoảng cách Ti – O trong tinh thể TiO2 ở pha anatase (1,394 Å) nhỏ hơn trong pha rutile (1,949 Å). Điều đó cũng ảnh hưởng đến cấu trúc điện tử, cấu trúc vùng năng lượng của hai dạng tinh thể và kéo theo sự khác nhau về các tính chất vật lí, hóa học của TiO2.
Ngoài ra, dạng cấu trúc tinh thể brookite cũng được mô tả trên Hình 1.2d, thường ít gặp trong quá trình chế tạo. Đồng thời, việc điều chế brookite sạch không trộn lẫn pha rutile hoặc pha anatase rất khó khăn và hoạt tính xúc tác quang của brookite cũng rất yếu nên thường ít được nghiên cứu trong lĩnh vực xúc tác quang.1 cho biết các thông số vật lí của TiO2 ở hai dạng thù hình chính là anatase và rutile. Các số liệu cho thấy, pha anatase có độ sắp xếp chặt khít kém hơn pha rutile. Ở dạng tinh thể với kích thước lớn, TiO2 rutile bền tại áp suất thường, nhiệt độ thường và ở mọi nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độ nóng chảy của nó.
Sự khác nhau về cấu trúc tinh thể của vật liệu ở các pha cũng dẫn đến sự khác nhau về cấu trúc vùng năng lượng trong tinh thể của chúng. Việc 6 chuyển pha từ anatase về dạng rutile chỉ kèm theo việc sắp xếp lại không đáng kể mạng tinh thể [25]. Một số tính chất vật lí của rutile và anatase [25] Tính chất Anatase Rutile Cấu trúc tinh thể Tetragonal Tetragonal Nhóm không gian I41/amd P42/mnm Thông số mạng a (Å) 3,78 4,58 Thông số mạng c (Å) 9,49 2,95 Khối lượng riêng (g/cm3) 3,895 4,25 Chỉ số khúc xạ 2,52 2,71 Độ rộng vùng cấm (eV) 3,25 3,05 Độ cứng (thang đo “Mox”) 5,5 ÷ 6,0 6,0 - 7,0 Hằng số điện môi 31 114 Nhiệt độ cao chuyển Nhiệt độ nóng chảy (oC) 1830 – 1850 thành rutile 1. Cơ chế xúc tác quang của vật liệu TiO2 TiO2 anatase là chất bán dẫn, có độ rộng vùng cấm là Eg ≈ 3,2 eV.
Bước sóng cực đại của bức xạ kích thích mà nó có thể hấp thụ là: hc 6,25.10-19 Khi TiO2 được chiếu bởi ánh sáng có năng lượng tương ứng với bề rộng vùng cấm (3,2 eV) thì vật liệu sẽ hấp thụ photon của ánh sáng tới. Mỗi photon bị hấp thụ sẽ kích thích một điện tử từ vùng hóa trị lên vùng dẫn, tạo ra một lỗ trống (hole) mang điện dương ở vùng hóa trị (Hình 1.3): TiO2 + h h+VB + e-CB (1.2) Các hạt mang điện này có thể bị bẫy lại trong vật liệu dưới dạng khuyết tật Ti3+ hay O- hoặc chúng có thể tái hợp với nhau trong vật liệu và trung hòa 7 điện tích tại đó. Ngoài ra, các hạt mang điện này có thể di chuyển đến bề mặt vật liệu, thực hiện phản ứng oxi hóa - khử với các chất bị hấp phụ trên bề mặt đó. Các lỗ trống mang điện dương có thể oxi hóa nhóm OH- hoặc H2O để tạo ra các gốc tự do OH – tác nhân oxi hóa mạnh.
Cơ chế quang xúc tác của vật liệu TiO2 H2O + h+VB •OH + H+ (1.3) Các điện tử mang điện tích âm sẽ khử O2 để tạo ra các O2•- - O2 +eCB O•2- (1.4) Các tiểu phân •OH và O2•- với vai trò là các phần tử hoạt động có khả năng phân hủy các hợp chất hữu cơ. Ứng dụng của vật liệu TiO2 Cho đến nay, lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng chính của vật liệu TiO2 với vai trò là một chất xúc tác quang có thể kể đến như: quá trình tự làm sạch, diệt khuẩn, vi rút và nấm mốc, khử mùi độc hại để làm sạch không khí, xử lí nước nhiễm bẩn, chống tạo sương mù trên lớp kính và tiêu diệt những tế bào ung thư [16]. Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước EU, Mỹ đã tiến hành thương mại hóa TiO2 và các sản phẩm ứng dụng của TiO2 từ lâu. Những sản phẩm ứng dụng vật liệu nano TiO2 ở dạng lớp phim mỏng được phủ trên các chất 8 mang đã được thương mại hóa hiện nay là: tấm kính xây dựng tự làm sạch và chống sương mù, đèn chiếu sáng công cộng tự làm sạch, gạch ceramic lót nền tự làm sạch, phòng kín được phủ lớp phim mỏng TiO2 có khả năng diệt khuẩn cao, các tấm bạt bằng nhựa tự làm sạch, … [39] Trong số các ứng dụng trên, ứng dụng vật liệu TiO2 để xử lí các thành phần ô nhiễm trong nước là đối tượng được nghiên cứu rộng rãi nhất.
Với khả năng sản sinh các gốc oxi hóa và khử mạnh khi có mặt tia UV (ultraviolet), TiO2 được ứng dụng để xử lí nước bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, tiêu diệt vi khuẩn, xử lí dầu, thuốc trừ sâu, thuốc nhuộm, các chất hoạt động bề mặt, chuyển hóa các kim loại nặng,. về dạng ít gây độc cho hệ sinh thái và con người [28]. Hơn nữa, những nghiên cứu trên đã vượt qua quy mô của nghiên cứu cơ bản trong phòng thí nghiệm, được áp dụng vào xử lí nước thải của các nhà máy giấy, nhà máy dệt, nhà máy lọc dầu, nhà máy sản xuất dược phẩm,. [35], [39], [56] cho thấy tiềm năng ứng dụng to lớn của vật liệu này.
Giới thiệu chung về các hợp chất BiOX (X = F, Cl, Br, I) 1. Đặc điểm cấu tạo của BiOX - Về mặt cấu tạo tinh thể, tất cả các BiOX đều có cấu trúc tứ giác, cấu trúc tinh thể của các hợp chất BiOX được mô tả theo phép chiếu trục (Hình 1.4 a,b) và mô hình biểu diễn điện trường tĩnh (internal electric field – IEF) vuông góc với mặt tinh thể (001) (Hình 1. Cấu trúc tinh thể của BiOX được sắp xếp trật tự theo kiểu các lớp [Bi2O2]2+ nằm xen kẽ với hai ion halide tạo ra chuỗi X-Bi-O-O-Bi-X dọc theo hướng (001) [13], [46]. Nói cách khác, mỗi tế bào cơ sở chứa hai nguyên tử bismuth (2Bi), hai nguyên tử oxygen (2O) và hai nguyên tử halogen (2X).
- Về mặt hình thái thì BiOX là các hợp chất với đa dạng các cấu trúc nano như dây nano, sợi nano, ống nano, cấu trúc nano rỗng,. tùy theo phương pháp tổng hợp khác nhau. Tính chất xúc tác quang của vật liệu BiOX Các nghiên cứu lí thuyết đã xác minh rằng, năng lượng vùng cấm của BiOF, BiOCl, BiOBr và BiOI lần lượt là 3,64; 3,35; 2,67 và 1,82 (eV), do đó BiOX là một họ các chất xúc tác quang có triển vọng. Mặt khác, cấu trúc của các lớp [Bi2O2]2+ xen kẽ với các ion halide trong các BiOX đã tạo ra được một điện trường tĩnh và có phương vuông góc với mỗi lớp nên sẽ thúc đẩy sự phân tách các cặp electron và lỗ trống quang sinh, do đó có lợi cho hoạt tính quang xúc tác.
Trong số các BiOX thì, BiOI có Eg nhỏ nhất nên có thể hấp thụ mạnh ánh sáng khả kiến, khả năng oxi hóa khử của nó bị hạn chế do vị trí năng lượng của vùng dẫn thấp nên khả năng phân tách H2O không đáp ứng được, hơn nữa Eg bé nên thuận lợi cho sự tái hợp cặp electron và lỗ trống quang sinh [20]. Như vậy, hướng nghiên cứu kết hợp BiOI với một chất bán dẫn khác như TiO2 nhằm cải thiện hoạt tính xúc tác quang là khả thi. Phương pháp tổng hợp vật liệu BiOX Các hợp chất của bismuth oxyhalide đã được tổng hợp với nhiều phương 10 pháp khác nhau như: phương pháp thủy nhiệt, phương pháp thủy phân,. Chẳng hạn, BiOCl pha tinh khiết là tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt từ các tiền chất Bi(NO3)3.5H2O, dung dịch mannit, dung dịch NaCl bão hòa và sản phẩm cuối cùng được sấy khô ở 100 °C trong 4 giờ [58]; BiOI được tổng hợp với các tiền chất Bi(NO3)3.5H2O, KI và dung dịch ethylene glycol.
Sản phẩm thu được rửa bằng nước khử ion và ethanol tuyệt đối nhiều lần và sau đó sấy khô ở 80 ºC trong 12 giờ [34]. Ngoài ra, BiOI được tổng hợp bằng cách sử dụng các hóa chất Bi(NO3)3.5H2O, KI và dung dịch ethylene glycol. Quá trình được tiến hành trong thiết bị dạng nồi hấp và ở nhiệt độ 160 °C trong 12 giờ. Tương tự, BiOCl và BiOBr cũng đã được điều chế theo phương thức này với tỷ lệ mol của Bi(NO3)3·5H2O: NaBr (KCl) = 1: 1 [37].
Các vật liệu dạng tổ hợp như BiOCl(1-x)Ix cũng đã được tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt. Quy trình điển hình được tiến hành bằng cách hòa tan muối KCl và KI trong 30 mL nước siêu tinh khiết và thêm từ từ muối Bi(NO3)3.5H2O đã được nghiền trước. Hỗn hợp sau đó được làm nóng đến 140 oC trong 24 giờ, cuối ùng làm mát tự nhiên đến nhiệt độ phòng.