Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nông nghiệp huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) do BĐKH

Phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp huyện Hòa Vang, Đà Nẵng. Đánh giá tính dễ bị tổn thương và đề xuất các giải pháp thích ứng.

Chuyên ngành

Địa lí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu

Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu là khả năng của các hệ thống tự nhiên và xã hội bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các biến đổi về khí hậu. Trong bối cảnh nông nghiệp Hòa Vang, tính dễ bị tổn thương được xác định bởi ba yếu tố chính: mức độ phơi bày trước hiểm họa khí hậu, độ nhạy cảm của cây trồng và vật nuôi, cùng với khả năng thích ứng của các nông dân. Huyện Hòa Vang, Đà Nẵng đang đối mặt với những thách thức lớn từ biến đổi khí hậu với xu hướng nhiệt độ tăng, lượng mưa không ổn định, và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng. Việc hiểu rõ tính dễ bị tổn thương của sản xuất nông nghiệp là nền tảng để xây dựng các chiến lược thích ứng phù hợp, bảo vệ sinh kế của nông dân và đảm bảo an ninh lương thực cho địa phương.

1.1. Định nghĩa tính dễ bị tổn thương nông nghiệp

Tính dễ bị tổn thương nông nghiệp là chỉ số đánh giá mức độ mà sản xuất nông nghiệp có thể chịu tác động từ biến đổi khí hậu. Nó phản ánh sự kết hợp giữa phơi bày rủi ro, nhạy cảm với khí hậukhả năng thích ứng của cộng đồng nông dân. Ở Hòa Vang, các yếu tố như chất lượng đất, cơ sở hạ tầng nông thôn, và tiếp cận thông tin công nghệ lại ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chịu đựng của nông nghiệp địa phương.

1.2. Các thành phần cơ bản của tính dễ bị tổn thương

Ba thành phần chính tạo nên tính dễ bị tổn thương: (1) Phơi bày - mức độ tiếp xúc của các hộ nông dân với tai biến khí hậu như bão, lũ, hạn hán; (2) Nhạy cảm - đặc điểm kinh tế-xã hội, chất lượng đất, và kỹ thuật canh tác của nông dân; (3) Khả năng thích ứng - năng lực tiếp cận nguồn lực, kỹ thuật, và thông tin để ứng phó với biến đổi khí hậu.

II. Tình hình biến đổi khí hậu tại huyện Hòa Vang

Huyện Hòa Vang nằm trong vùng bị tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu với xu hướng tăng nhiệt độ đáng kể trong những năm gần đây. Dữ liệu cho thấy nhiệt độ trung bình đã tăng khoảng 0,5-1°C trong 20 năm qua, làm gia tăng bốc thoát nước từ đất và gây stress cho cây trồng. Bên cạnh đó, lượng mưa trở nên bất thường với những năm mưa quá nhiều gây ngập lụt nông nghiệp, trong khi những năm khác lại xảy ra hạn hán kéo dài. Các cơn bão, áp thấp nhiệt đới cũng thường xuyên xuất hiện, gây thiệt hại nặng nề cho cây trồng và cơ sở hạ tầng nông nghiệp. Những biến đổi này có tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, làm giảm năng suất và ảnh hưởng đến sinh kế nông dân.

2.1. Xu hướng biến đổi nhiệt độ

Trong hai thập kỷ qua, nhiệt độ trung bình năm tại Hòa Vang tăng không đều theo các mùa, gây khó khăn cho lập kế hoạch nông nghiệp. Mùa hè có xu hướng kéo dài hơn với nhiệt độ cao kỷ lục, trong khi các đợt rét đột ngột vào mùa đông có thể gây sốc nhiệt cho cây trồng yêu ấm. Sự thay đổi này ảnh hưởng đến chu kỳ sinh trưởng của cây và tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển.

2.2. Biến đổi lượng mưa và hạn hán

Lượng mưa hàng năm tại Hòa Vang biến động mạnh, từ năm mưa vượt mức gây lũ lụt đến năm hạn hán kéo dài kéo theo thiếu nước tưới. Giai đoạn khô hạn có thể kéo dài 4-6 tháng, ảnh hưởng nặng nề đến nông nghiệp mưa và gây khó khăn cho nuôi trồng thủy sản. Những biến đổi này yêu cầu nông dân phải thích ứng với các mùa vụ bất thường.

III. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp Hòa Vang

Biến đổi khí hậu đã tạo ra những tác động không nhỏ đến hệ thống sản xuất nông nghiệp của huyện Hòa Vang. Các hộ nông dân phải đối mặt với rủi ro liên tục từ bão, lũ, hạn hán và các dịch bệnh mới. Năng suất cây trồng giảm từ 15-30% trong các năm bất lợi, gây tổn thất kinh tế lớn, đặc biệt là đối với các hộ nông dân nhỏ không có khả năng thích ứng tốt. Các loại cây trồng chính như lúa, cà chua, dưa đều bị ảnh hưởng, trong đó hạn hán gây thiệt hại nặng nhất. Bên cạnh đó, chất lượng đất cũng xuống cấp do xói mòn sau các trận mưa lớn. Những ảnh hưởng này dẫn đến tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận, và tăng nợ cho các hộ nông dân.

3.1. Ảnh hưởng của bão lũ đến nông nghiệp

Mỗi cơn bão hoặc trận lũ gây thiệt hại trực tiếp đến cây trồng, cơ sở hạ tầngtài sản nông dân. Bão làm đổ cây, lũ cuốn trôi vùng canh tác và gây ô nhiễm mặn tại vùng ven biển. Các hộ nông dân mất hàng chục triệu đồng mỗi lần thảm họa, ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán nợtái sản xuất.

3.2. Ảnh hưởng của hạn hán

Hạn hántai biến khí hậu thường xuyên nhất tại Hòa Vang, kéo dài 4-6 tháng mỗi năm. Nó gây khó khăn lớn cho nông nghiệp mưachăn nuôi, buộc nông dân phải cắt giảm diện tích canh tác hoặc chuyển đổi cây trồng. Thiếu nước tưới làm năng suất giảm 20-40%, tạo áp lực kinh tế nặng nề cho cộng đồng nông dân.

IV. Giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu

Để giảm tính dễ bị tổn thương của sản xuất nông nghiệp, huyện Hòa Vang cần áp dụng các giải pháp thích ứng toàn diện. Công nghệ nông nghiệp thông minh như tưới nước hiệu quả, canh tác có độ chính xác caogiống cây thích ứng với khí hậu khô là những hướng đi tiên tiến. Nâng cấp cơ sở hạ tầng như hệ thống tưới nước, thoát nướcbảo vệ đê điều giúp giảm thiểu thiệt hại. Chương trình tập huấnhỗ trợ tài chính cho nông dân là yếu tố then chốt để nâng cao khả năng thích ứng. Đồng thời, bảo hiểm nông nghiệpquỹ dự phòng rủi ro giúp nông dân ổn định sinh kế khi gặp tai biến khí hậu. Đa dạng hóa cây trồng cũng là chiến lược hiệu quả để giảm rủi ro từ biến đổi khí hậu.

4.1. Cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn

Đầu tư hạ tầngnền tảng để thích ứng với biến đổi khí hậu. Hệ thống tưới nước hiện đại giúp sử dụng nước hiệu quả giữa các đợt hạn hán. Kênh thải nước tốt giảm thiệt hại lũ lụt. Đê điều cao vững bảo vệ vùng canh tác khỏi nước mặn. Các công trình này cần đầu tư lâu dàibảo trì định kỳ để đạt hiệu quả tối đa.

4.2. Ứng dụng công nghệ và đổi mới sản xuất

Công nghệ nông nghiệp hiện đại như canh tác chính xác, nông nghiệp thông minh giúp tối ưu hóa sử dụng nướcphân bón. Giống cây thích ứng với hạn hánbệnh dịch giảm rủi ro mất mùa. Tập huấn kỹ thuật cho nông dân là yếu tố quan trọng để nâng cao ý thứckỹ năng thích ứng.

18/12/2025
Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp huyện hòa vang thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Khái niệm chung về tính dễ bị tổn thương Khái niệm về TDBTT đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua. Đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá TDBTT.

Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến TDBTT giữa các ngành, lĩnh vực cũng khác nhau và đôi khi mâu thuẫn nên khó có thể phân loại thành một hệ thống thống nhất. Trong nỗ lực để phân loại các thuật ngữ này, Adger (2006) đã thành công và chỉ ra rằng sự đa dạng trong khái niệm TDBTT phản ánh “TDBTT được biểu hiện tại những nơi nhất định trong những thời điểm nhất định”. Điều đó nghĩa là TDBTT sẽ thay đổi phụ thuộc bối cảnh cụ thể, vùng cụ thể, thời điểm cụ thể và quan điểm, mục tiêu của người đánh giá TDBTT. Phân loại các cách tiếp cận về khái niệm TDBTT Cách tiếp cận về Mục tiêu khái niệm TDBTT Các nghiên cứu trước đây (trước 1999) TDBTT về nạn đói và thiếu TDBTT được phát triển để giải thích tổn thương về nạn an ninh lương thực đói do thiếu lương thực hoặc mùa màng thất bát, và để mô tả TDBTT như kết quả của việc thiếu quyền lợi và năng lực TDBTT về hiểm họa tự Xác định và dự đoán nhóm đối tượng, khu vực dễ nhiên bị tổn thương thông qua phân tích hậu quả và khả năng xảy ra hiểm họa tự nhiên.

Sinh thái học nhân văn Phân tích một cách hệ thống về những nguyên nhân sâu xa dẫn đến TDBTT đối với hiểm họa tự nhiên với nỗ lực giải thích vì sao nhóm đối tượng người nghèo và yếu thế là dễ bị tổn thương nhất trước hiểm họa tự nhiên. 6 Mô hình “Hiểm họa tự Phát triển hoàn thiện thêm mô hình sinh thái học nhân nhiên - Áp lực và giải tỏa” văn nhằm liên kết chặt chẽ rủi ro hiểm họa với các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và quản lý thiên tai và các can thiệp, thể hiện hiểm họa là áp lực và cũng là tính chất của TDBTT về xã hội và vật lý. Các nghiên cứu sau này (sau 1999) TDBTT về BĐKH và các Giải thích TDBTT về xã hội và lý sinh (các yếu tố chính) dao động khí hậu trước các rủi ro tương lai bằng nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng trước đó. Sinh kế bền vững và Giải thích vì sao một số bộ phận dân số trở nên nghèo TDBTT về nghèo đói hoặc tiếp tục nghèo bằng cách phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế và xã hội.

TDBTT của hệ thống sinh Giải thích TDBTT của hai hệ thống có mối quan hệ chặt thái xã hội chẽ: con người và môi trường. Nguồn: Adger (2006) Nhìn chung, có thể chia thành 3 trường phái quan điểm chính về TDBTT là: (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa vật lý, mức độ thiệt hại và các tác động; (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội; (3) Kết hợp cả hai phương pháp và xác định TDBTT như là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng như những tác động thích ứng của xã hội. Như vậy, theo các định nghĩa đã có trước, thì TDBTT gồm 2 yếu tố: 1) mức độ tổn thất, suy thoái và 2) mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của đối tượng bị tổn thương. Khái niệm tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu Liên quan đến khía cạnh BĐKH, nghiên cứu và đánh giá TDBTT đã được đề cập, thực hiện với nhiều công trình của các giả và tổ chức trên thế giới được dựa trên các ý niệm và phương pháp nghiên cứu trước đây về TDBTT, nhưng tiến bộ hơn các nghiên cứu trước trong việc phát triển những phân tích về TDBTT một cách đa ngành, đa hệ thống, đa góc độ và đa quy mô.

Khái niệm về TDBTT do BĐKH đã được đưa ra từ nhiều nghiên cứu, nhưng được xem xét một cách đầy đủ nhất, bao trùm nhất là định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC), theo đó TDBTT được định nghĩa như sau: 7 + IPCC, 1992 định nghĩa “Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống không thể đối phó được với tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng”. + IPCC trong báo cáo lần thứ 2 SAR, 1996 định nghĩa: “Tính dễ bị tổn thương là quy mô mà biến đổi khí hậu có thể gây thiệt hại hoặc làm tổn hại đến một hệ thống, nó phụ thuộc không chỉ vào độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các điều kiện khí hậu mới”. + Trong báo cáo lần thứ 3 TAR, 2001, IPCC định nghĩa: “Tính dễ bị tổn thương tới biến đổi khí hậu là mức độ mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu. Tính dễ bị tổn thương là hàm của độ nhạy cảm (mức độ mà một hệ thống phản ứng với một thay đổi về khí hậu, bao gồm tác động có lợi hay có hại), khả năng thích ứng (mức độ mà hệ thống điều chỉnh các thiệt hại tiềm năng hay tận dụng các cơ hội thuận lợi mà thay đổi về khí hậu mang lại) và mức độ mà hệ thống tiếp xúc với các hiểm họa khí hậu”.

Điểm nổi bật trong định nghĩa của IPCC là định nghĩa này tích hợp các yếu tố hiểm họa, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng. Theo định nghĩa này, một hệ thống có khả năng tổn thương cao là một hệ thống rất nhạy cảm với các thay đổi nhỏ của khí hậu. + Năm 2007, trong báo cáo lần thứ 4 của IPCC, định nghĩa TDBTT và các yếu tố thành phần so với các định nghĩa trước đó đã được làm rõ hơn, theo đó “Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống dễ bị tổn thương và không thể đối phó được, với tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, bao gồm cả những dao động và hiện tượng khí hậu cực đoan. Tính dễ bị tổn thương là hàm của đặc tính, cường độ và tỉ lệ của biến đổi và dao động khí hậu mà hệ thống bị phơi bày, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của nó”.

Như vậy, theo định nghĩa này, TDBTT gồm 3 hợp phần: mức độ phơi bày, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng. + Căn cứ theo định nghĩa này, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) đã đưa ra định nghĩa trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH như sau “Khả năng (tính) dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do biến đổi khí hậu, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu”. + Trong báo cáo lần thứ 5 năm 2013, IPCC định nghĩa “Tính dễ bị tổn thương là xu hướng hay khuynh hướng bị tác động bất lợi. Tính dễ bị tổn thương bao gồm các khái niệm và các yếu tố bao gồm độ nhạy cảm hoặc nhạy cảm với tổn hại và thiếu năng lực để đối phó và thích ứng”.

Trong báo cáo này, TDBTT được xác định trong từng bối 8 cảnh cụ thể, tương tác với hiểm họa và mức độ phơi bày trước hiểm họa tạo nên các rủi ro. TDBTT là một tập hợp các yếu tố từ bối cảnh văn hóa, xã hội, môi trường, chính trị và kinh tế. Trong khóa luận này sử dụng định nghĩa của IPCC trong báo cáo 2007 và của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) và quan điểm của IPCC trong báo cáo 2013 về đánh giá TDBTT dựa trên cách tiếp cận tổng hợp, xem xét đối tượng bị ảnh hưởng không chỉ trên góc độ tiếp xúc với những thiên tai mà còn dựa trên khả năng thích ứng với thiên tai đó, để xây dựng khung lý thuyết cho đánh giá TDBTT. Các phương pháp tiếp cận tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu Căn cứ vào kết quả nghiên cứu tổng quan các khung và phương pháp tiếp cận nghiên cứu về TDBTT do BĐKH trong nước và trên thế giới, nhìn chung, các phương pháp tiếp cận này có thể chia thành 3 loại chính sau đây: 1.

Cách tiếp cận từ trên xuống Cách tiếp cận từ trên xuống (Outcome Vulnerability) là phương pháp tiếp cận dựa trên kết quả coi TDBTT là điểm cuối của phân tích, là tác động (tiềm năng) còn lại của BDKH trên một đối tượng bị phơi bày cụ thể (có thể về mặt lý sinh và xã hội) sau khi đã thực hiện những biện pháp thích ứng khả thi. Cách tiếp cận này đặc biệt chú trọng vào các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ nhằm giảm thiểu các tác động của BĐKH. Vì vậy, TDBTT được xác định bởi khả năng thích ứng của hệ thống. Sơ đồ cách tiếp cận từ trên xuống (Outcome Vulnerability) Nguồn: Allen và cs (2005), dựa trên Holding (1987) Cách tiếp cận này tập trung đánh giá các rủi ro khí hậu trong dài hạn như vài thập kỷ và thường đến 2100 và dựa trên các kịch bản BĐKH.

Điển hình các khung, phương pháp sử dụng cách tiếp cận từ trên xuống bao gồm: Phương pháp 7 bước của IPCC; Phương pháp đánh giá của Trung tâm nghiên cứu ven biển NOAA, Hoa Kỳ. Cách tiếp cận từ dưới lên Cách tiếp cận từ dưới lên (Contextual Vulnerability) coi TDBTT là điểm bắt đầu, là khả năng không thể ứng phó hiện tại của một hệ thống với những điều kiện khí hậu đang biến đổi. Cách tiếp cận này chú trọng vào các yếu tố kinh tế xã hội chính hiện tại của hệ thống hoặc các tác nhân của TDBTT (bao gồm các điều kiện về kinh tế, xã hội, thể chế,v. Do vậy, với cách tiếp cận này, TDBTT trước các tác nhân BĐKH sẽ xác định khả năng thích ứng của hệ thống.

Sơ đồ cách tiếp cận từ dưới lên (Contextual Vulnerability) Nguồn: Thomas Fellman(2012), dựa trên O’ Brian (2007) Cách tiếp cận này mới được đưa ra trong những năm gần đây, bổ sung cho cách tiếp cận từ trên xuống (Outcome Vulnerability) do dựa trên các chiến lược đối phó của địa phương, công nghệ và kiến thức bản địa, năng lực và khả năng đối phó của cộng đồng và chính quyền trước các dao động khí hậu hiện tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ