Tổng quan nghiên cứu
Xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An là địa bàn ven biển chịu áp lực nặng nề từ các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu. Với đặc trưng địa hình trũng thấp chỉ từ 0,5 đến 0,8 m so với mực nước biển cùng biên độ triều lên tới 3,95 m, địa phương này thường xuyên đối mặt với các đợt thiên tai nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2000 - 2015, ngập lụt do triều cường cực đại kết hợp lũ thượng nguồn với đỉnh triều Hmax đạt 170 cm, cùng hiện tượng xâm nhập mặn với nồng độ từ 7‰ đến 15‰ trong mùa khô đã ảnh hưởng trực tiếp đến 13.200 nhân khẩu và làm tổn hại nghiêm trọng 1.832,80 ha đất sản xuất nông nghiệp trên toàn xã. Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự suy giảm nguồn lực sinh kế truyền thống của các nông hộ trồng lúa và nuôi trồng thủy sản trước các cú sốc môi trường diễn biến ngày càng phức tạp.
Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ đặc điểm, xu hướng diễn biến của ngập lụt, hạn hán và xâm nhập mặn; phân tích thực trạng năm nguồn vốn sinh kế; đánh giá định lượng mức độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của các hộ dân. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại 7 ấp thuộc xã Tân Tập trong khung thời gian 15 năm (2000 - 2015), tập trung vào các hộ gia đình cư trú liên tục từ 5 năm trở lên. Về mặt ý nghĩa khoa học và thực tiễn, đề tài cung cấp bộ cơ sở dữ liệu vi mô chuẩn xác về chỉ số tổn thương sinh kế, hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, bảo vệ hiệu quả 1.029,67 ha mặt nước nuôi thủy sản và 803,13 ha đất canh tác nông nghiệp trước các kịch bản khí hậu bất lợi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) do Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2001) khởi xướng cùng lý thuyết sinh kế của Chambers và Conway (1991, 1992). Khung phân tích này liên kết năm nguồn lực sinh kế cốt lõi gồm: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội trong mối tương tác chặt chẽ với bối cảnh thể chế, chính sách và các rủi ro thiên tai. Đồng thời, đề tài tích hợp Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ban liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007), xác định tính dễ bị tổn thương là hàm số tương tác giữa ba thành tố: Độ phơi nhiễm (Exposure - E), Độ nhạy cảm (Sensitivity - S) và Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity - AC). Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: tính dễ bị tổn thương sinh kế, khả năng chống chịu của nông hộ, xâm nhập mặn tầng mặt và ngập lụt ven cửa sông.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2016 của Ủy ban nhân dân xã Tân Tập, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An, cùng dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 166 hộ gia đình, được chia đều thành 83 hộ trồng lúa và 83 hộ nuôi tôm tại 7 ấp, đại diện cho đầy đủ các nhóm mức sống từ hộ nghèo, cận nghèo đến trung bình và khá giả. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có định ngạch được áp dụng nhằm đảm bảo các nông hộ tham gia đều có thời gian định cư ít nhất 5 năm và chủ hộ từ 22 tuổi trở lên. Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 14 trường hợp gồm 10 hộ dân tiêu biểu cùng 4 cán bộ quản lý thuộc Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Ủy ban nhân dân xã.
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS và Excel thông qua thống kê mô tả và phân tích bảng chéo. Các chỉ thị được chuẩn hóa về thang đo từ 0 đến 1 theo phương pháp tính chỉ số phát triển con người HDI của Anand và Sen (1994). Chỉ số tính dễ bị tổn thương tổng hợp (CVI) được xác định dựa trên công thức tích hợp của IPCC và phương pháp chỉ số tổn thương sinh kế LVI của Hahn và cộng sự (2009). Việc lựa chọn phương pháp phân tích đa tiêu chí giúp lượng hóa chính xác mức độ tổn thương của từng nhóm sinh kế phục vụ việc so sánh khách quan.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, mức độ tổn thương nguồn vốn tự nhiên và vật chất thể hiện qua thiệt hại sản xuất trên diện rộng. Trong đợt hạn mặn lịch sử năm 2015, có tới 340 ha lúa bị vàng lá trên tổng số 1.052 ha gieo sạ, chiếm tỷ lệ 32,32% diện tích, trong đó 35 ha bị nhiễm mặn trổ cờ trắng và 30 ha lép hạt hoàn toàn. Đối với lĩnh vực thủy sản, trong tổng số 262,3 ha tôm thả nuôi, có 65 ha bị chết trắng (chiếm 24,78%) và 17,3 ha phải thu hoạch non với năng suất suy giảm mạnh.
Thứ hai, nguồn vốn con người và vốn tài chính của các hộ nghèo rất mỏng manh, tạo lực cản lớn cho quá trình phục hồi. Toàn xã có hơn 7.500 lao động nhưng chỉ 18,18% được đào tạo nghề, đa số có trình độ văn hóa cấp một. Khi thiên tai xảy ra, hơn 70% hộ dân rơi vào tình trạng thất nghiệp tạm thời và không có nguồn thu nhập phi nông nghiệp thay thế.
Thứ ba, sự phân hóa mức độ tổn thương giữa hai nhóm sinh kế rất rõ rệt. Nông hộ trồng lúa chịu độ phơi nhiễm mặn cao trong giai đoạn đòng trổ từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm. Trong khi đó, các hộ nuôi tôm chịu tổn thương tài chính nặng nề hơn do chi phí đầu tư con giống và thức ăn cao gấp 3 đến 5 lần so với trồng lúa, với tỷ lệ nợ vay ngân hàng và tư nhân sau các đợt dịch bệnh, thiên tai lên tới trên 60%.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tổn thương cao tại xã Tân Tập bắt nguồn từ sự tương tác giữa vị trí địa lý cửa sông Soài Rạp và hệ thống hạ tầng thủy lợi chưa hoàn chỉnh. Tuyến đê sông Ông Hiếu dài 11,85 km chỉ bảo vệ được một phần vùng trữ ngọt, trong khi các đợt triều cường dâng cao vượt mốc 1,7 m thường xuyên gây sạt lở bờ bao vuông tôm. So sánh với các nghiên cứu tương tự tại tỉnh An Giang và Bến Tre, mức độ tổn thương của nông hộ vùng hạ Cần Giuộc mang tính chất phức hợp: vừa chịu ngập úng mùa mưa lũ vừa bị hạn mặn xâm nhập sâu trong mùa khô.
Các kết quả phản ánh năng lực thích ứng của người dân hiện nay chủ yếu mang tính bị động, dựa vào kinh nghiệm truyền thống ngắn hạn. Toàn bộ các phát hiện định lượng này có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ tam giác tổn thương IPCC (Exposure - Sensitivity - Adaptive Capacity) và bảng ma trận xếp hạng rủi ro năm nguồn vốn, qua đó làm nổi bật khoảng cách năng lực thích ứng giữa nhóm hộ nghèo và nhóm hộ khá giả.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, kiên cố hóa hạ tầng thủy lợi và công trình đê ngăn mặn: Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Long An cần ưu tiên bố trí vốn nâng cấp 11,85 km đê bao cống Ông Hiếu, đồng thời nạo vét toàn bộ các tuyến kênh mương nội đồng tại 7 ấp trong giai đoạn 2018 - 2022 nhằm tăng dung tích trữ ngọt, giảm 40% diện tích ngập mặn cục bộ.
Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và giống cây trồng thích ứng: Trạm Khuyến nông huyện phối hợp Ủy ban nhân dân xã Tân Tập hướng dẫn nông dân chuyển đổi 461,77 ha đất lúa sang các giống lúa chịu mặn nồng độ 4‰ như Nàng Thơm, Tài Nguyên hoặc luân canh mô hình lúa - tôm trong giai đoạn 2018 - 2025, hướng tới mục tiêu duy trì năng suất lúa ổn định trên 4 tấn/ha.
Thứ ba, nâng cao năng lực vốn con người thông qua đào tạo nghề phi nông nghiệp: Trung tâm Dạy nghề huyện và Hội Nông dân xã cần tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật nuôi tôm an toàn sinh học và đào tạo nghề công nghiệp cho khoảng 2.000 lao động nông thôn trước năm 2023, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 18,18% lên 45%, tạo nguồn thu nhập bổ sung ổn định ngoài mùa vụ.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế tín dụng ưu đãi và bảo hiểm rủi ro thiên tai: Ngân hàng Chính sách Xã hội cùng các tổ chức tín dụng cần triển khai gói vay vốn ưu đãi giảm lãi suất 2% đến 3%/năm cho 100% hộ nghèo, cận nghèo bị thiệt hại mùa vụ, đồng thời thí điểm mô hình bảo hiểm nông nghiệp cho vùng nuôi tôm 569 ha trước năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An: Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và bộ chỉ số CVI thực chứng để xây dựng kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu cấp cơ sở và điều chỉnh quy hoạch sử dụng 2.868,06 ha đất tự nhiên tại địa phương.
Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Địa lý học, Khoa học Môi trường và Phát triển nông thôn: Tài liệu là mô hình mẫu điển hình trong việc ứng dụng kết hợp Khung sinh kế bền vững DFID và Khung tổn thương IPCC để định lượng rủi ro khí hậu ở cấp độ hộ gia đình.
Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức phát triển quốc tế: Công trình cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực tế từ 166 hộ dân, là tài liệu tham khảo giá trị để xây dựng các dự án tài trợ sinh kế cộng đồng và hỗ trợ kỹ thuật thích ứng biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ tư, cán bộ khuyến nông và ban lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Tân Tập: Luận văn đưa ra các phân tích cụ thể về lịch thời vụ và mức độ nhạy cảm của 83 hộ trồng lúa cùng 83 hộ nuôi tôm, phục vụ trực tiếp cho công tác chỉ đạo sản xuất và phòng chống thiên tai tại địa bàn.
Câu hỏi thường gặp
Thực trạng xâm nhập mặn tại xã Tân Tập diễn ra nghiêm trọng nhất vào thời gian nào trong năm?
Hiện tượng xâm nhập mặn diễn ra gay gắt nhất từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm, khi độ mặn sông Cần Giuộc dao động từ 7‰ đến 15‰. Điển hình vào mùa khô năm 2015, nồng độ mặn tăng cao đã làm khô cháy 340 ha lúa và khiến 35 ha bị mất trắng hoàn toàn.
Vì sao nông hộ nuôi tôm lại chịu tổn thương tài chính cao hơn nông hộ trồng lúa?
Chi phí đầu tư nuôi tôm nước lợ thường cao gấp 3 đến 5 lần so với trồng lúa, trung bình hàng chục triệu đồng mỗi hecta. Khi xảy ra sự cố vỡ bờ bao do triều cường hoặc dịch bệnh làm chết trắng 65 ha tôm như năm 2015, nông hộ nuôi tôm mất toàn bộ vốn đầu tư và gánh chịu các khoản nợ vay nặng nề.
Chỉ số tính dễ bị tổn thương CVI trong luận văn được xây dựng dựa trên những thành phần nào?
Chỉ số CVI được tổng hợp từ 3 nhóm biến số chính theo IPCC gồm: Độ phơi nhiễm với 7 chỉ thị khí hậu, Độ nhạy cảm với 6 chỉ thị nông nghiệp - dân số, và Năng lực thích ứng dựa trên 5 nguồn vốn sinh kế với 17 biến số phụ được chuẩn hóa từ 0 đến 1.
Vốn xã hội đóng vai trò như thế nào trong việc giúp nông hộ giảm nhẹ rủi ro thiên tai?
Vốn xã hội thông qua các đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và sự tương trợ cộng đồng giúp trên 60% hộ dân tiếp cận kịp thời thông tin cảnh báo sớm, vay mượn giống cây trồng và chia sẻ nguồn nước ngọt sinh hoạt trong các đợt hạn mặn kéo dài.
Giải pháp phi công trình nào được đánh giá là ưu tiên hàng đầu tại địa bàn nghiên cứu?
Giải pháp cấp thiết nhất là đào tạo nghề phi nông nghiệp cho khoảng 5.500 lao động thuần nông, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 18,18% lên trên 40%, kết hợp điều chỉnh lịch thời vụ nhằm tránh thời điểm triều cường cực đại vào tháng 3 và tháng 4.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế nông hộ trước thiên tai ngập lụt, hạn mặn tại xã Tân Tập giai đoạn 2000 - 2015.
- Kết quả định lượng khẳng định 1.832,80 ha đất nông nghiệp cùng hơn 7.500 lao động địa phương đang đối mặt với nguy cơ tổn thương cao, đặc biệt là nhóm hộ nghèo thiếu vốn và tư liệu sản xuất.
- Đề tài đã xây dựng thành công bộ chỉ số CVI tích hợp 3 thành tố IPCC và 5 nguồn vốn sinh kế, chỉ rõ sự khác biệt về mức độ rủi ro giữa 83 hộ trồng lúa và 83 hộ nuôi tôm.
- Hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất đồng bộ giữa nâng cấp 11,85 km công trình đê cống Ông Hiếu và đổi mới chính sách tín dụng, đào tạo nghề chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Lộ trình thực hiện các giải pháp thích ứng cần được chính quyền địa phương tích hợp ngay vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2018 - 2025.
Công trình là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển, đồng thời mở ra hướng tiếp cận mới trong việc xây dựng các mô hình sinh kế thích ứng bền vững cho các vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.