PHẦN MỞ ĐẦU 1. T n ấp t ết luận án Tôn giáo là một trong những vấn đề phức tạp và nhạy cảm. Trong những năm gần đây, ở Việt Nam tôn giáo luôn bị các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng, phục vụ chiêu bài khoác áo “nhân quyền, dân chủ, tôn giáo”. Cùng với đó, việc truyền đạo trái phép do các tổ chức phản động từ nƣớc ngoài khiến cho tình hình tôn giáo có những diễn biến phức tạp.
Trong nƣớc, hoạt động tôn giáo của một số tín đồ, chức sắc ở một số nơi chƣa đúng theo pháp luật nhƣ: Tổ chức sinh hoạt tôn giáo, in ấn, xuất nhập, lƣu hành kinh sách, sử dụng đất đai, xây dựng cơ sở thờ tự và huy động quá lớn sức dân, không đúng quy định của pháp luật; một số ngƣời còn lợi dụng nơi thờ tự tôn giáo để hành nghề mê tín. Không những thế vẫn còn tình trạng truyền đạo trái phép và lợi dụng tín ngƣỡng tôn giáo tiến hành các hoạt động gây phƣơng hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, trái với mục đích của tôn giáo và thu lợi cá nhân. Một số nhà hoạt động tôn giáo trong lĩnh vực lý luận và thực tiễn lại không am hiểu tôn giáo. Thực tiễn cho thấy những xung đột về tôn giáo nếu giải quyết không khéo léo sẽ dẫn đến xung đột về chính trị, xung đột dân tộc.
Chính vì vậy, nâng cao nhận thức lý luận về công tác tôn giáo, cũng nhƣ không ngừng đổi mới công tác tôn giáo cho phù hợp với thực tiễn đất nƣớc luôn là yêu cầu cấp bách hiện nay. Tôn giáo là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội. Bất kỳ tôn giáo nào cũng chịu sự chi phối bởi những biến đổi của đời sống xã hội. Với tính độc lập tƣơng đối của mình, tôn giáo cũng tác động mạnh mẽ trở lại đời sống xã hội.
Do đó không thể phủ nhận vai trò của tôn giáo đối với đời sống tinh thần của xã hội, bóng dáng của tôn giáo vẫn tồn tại xuyên suốt trong những thăng trầm của lịch sử nhân loại. Nam Bộ là khu vực phía Nam của Tổ quốc. Sự đa dạng, phong phú của điều kiện tự nhiên, sự giao lƣu giữa các vùng miền chi phối ảnh hƣởng đến vùng đất mới này tạo nên diện mạo văn hóa hết sức đặc sắc ở Nam Bộ – “đa dân tộc, đa tôn giáo”. Các tôn giáo nội 2 sinh ở Nam Bộ sớm hình thành và lan rộng nhƣ đạo Bửu Sơn Kỳ Hƣơng, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo… Sức sống qua các dòng tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ là những giá trị nhân văn chứa đựng trong từng nội dung giáo lý, tạo nên nét đặc trƣng của các dòng tôn giáo, ở thái độ hành xử và tính chất nhập thế cứu đời.
Giáo lý qua các dòng tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ thực chất là sự kế thừa, dung hợp tƣ tƣởng của Nho – Phật – Lão, trải qua quá trình tiếp biến lâu dài, hòa nhập với truyền thống văn hóa bản địa tạo nên diện mạo tôn giáo đặc sắc của địa phƣơng. Trong đó, tính chất cứu thế là yếu tố có sức lôi cuốn mạnh mẽ các tín đồ qua từng thời kỳ. Tính cứu thế là một trong những đặc trƣng của tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ, hình thành gắn liền với từng giai đoạn lịch sử nhất định, ở từng thời điểm nhất định thể hiện tính chất cứu đời, hƣớng thiện – nhân tố tích cực thôi thúc tín đồ tham gia sâu rộng và có sức lan toả mạnh mẽ góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, tính chất cứu thế vẫn tạo nên chất keo bền chặt, gắn kết một bộ phận nông dân Nam Bộ với nhau thành một cộng đồng ngƣời cùng chung tín ngƣỡng.
Tính chất cứu thế của tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ hòa nhập với truyền thống yêu nƣớc của dân tộc Việt Nam tạo nên những nét chung, nằm trong xu hƣớng chung của đất nƣớc đồng thời chứa đựng những nét hết sức đặc thù mang bản sắc tâm linh tôn giáo. Sự ra đời của tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ mang lại luồng gió mới, cứu rỗi, giải thoát con ngƣời khỏi nỗi đau, tuyệt vọng; nâng đỡ, dìu dắt con ngƣời tìm đến sự thăng hoa trong tâm linh, tôn giáo. Do đó, các tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ có những ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tín ngƣỡng tôn giáo của một bộ phận nông dân Nam Bộ và những giá trị nhân văn trong tôn giáo cũng góp phần điều chỉnh hành vi của tín đồ, giúp họ hƣớng thiện, sống tốt đời, đẹp đạo…Bên cạnh mặt giá trị, tính chất cứu thế của tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ còn nảy sinh những mặt bất cập nhƣ sự sùng bái cá nhân, tuyệt đối hoá vai trò của những ngƣời sáng lập tôn giáo, xu hƣớng phân hoá tôn giáo, gây chia rẽ 3 mất đoàn kết trong nội bộ các giáo dân dẫn đến sự phân hoá, xung đột tôn giáo, ảnh hƣởng đến cục diện chính trị trong nƣớc. Các tín đồ cực đoan có những hành động chống phá Nhà nƣớc, bị các thế lực thù địch trong và ngoài nƣớc lôi kéo gây chia rẽ lƣơng giáo…Đồng thời, nảy sinh xu hƣớng lợi dụng các hoạt động từ thiện xã hội để trục lợi, vun vén lợi ích cá nhân.
Xu hƣớng mê tín dị đoan, niềm tin vào ngày tận thế, quan niệm sống gởi thác về, hay xu hƣớng trông chờ, ỷ lại vào các hoạt động cứu trợ xã hội trong một số bộ phận tín đồ đã làm hạn chế ý chí phấn đấu vƣơn lên cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của bà con tín đồ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, làm sáng tỏ tính cứu thế qua các dòng tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ tiêu biểu nhƣ Bửu Sơn Kỳ Hƣơng, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn: Về mặt lý luận, thông qua việc nghiên cứu, giúp chúng ta hiểu rõ hơn vị trí, vai trò và những đóng góp nhất định của tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ đối với đời sống xã hội và con ngƣời Nam Bộ, từ đó xây dựng thái độ ứng xử một cách khách quan, khoa học đối với các tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ, thể hiện sự trân trọng những giá trị văn hóa của một dòng tôn giáo, mặt khác góp phần tìm ra nguyên nhân tạo nên sức sống bền vững cho các tôn giáo nội sinh vùng Nam Bộ, thấy đƣợc những giá trị và bất cập trong tính cứu thế của tôn giáo Nam Bộ làm cơ sở cho các nhà nghiên cứu tôn giáo đi sâu nghiên cứu đặc điểm của tôn giáo vùng Nam Bộ nói riêng và cả nƣớc nói chung. Về mặt thực tiễn, thông qua việc nghiên cứu, luận án sẽ là nguồn tài liệu bổ ích giúp cho cơ quan Đảng và chính quyền địa phƣơng vùng Nam Bộ tham khảo, đề ra chủ trƣơng, chính sách trong công tác tôn giáo vùng Nam Bộ; đồng thời làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy triết học, và tôn giáo học, cụ thể các chuyên đề về tôn giáo vùng Nam Bộ. Do vậy, tác giả chọn vấn đề Tôn giáo nội sinh mang tính cứu thế vùng Nam Bộ làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm cung cấp một phần tƣ liệu cho những ai quan tâm đến đề tài, đồng thời cũng mong 4 muốn đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong công tác tôn giáo ở Nam Bộ hiện nay.
Tổn qu n t n n n n ứu Tôn giáo là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội. Với tƣ cách là một hiện tƣợng xã hội, tôn giáo luôn có những ảnh hƣởng nhất định đến đời sống văn hóa, đạo đức, tâm linh và cả tƣ tƣởng chính trị của nhiều cộng đồng ngƣời trên toàn thế giới. Trong quá trình phát triển, lan truyền trên bình diện thế giới, tôn giáo không chỉ đơn thuần truyền tải niềm tin của con ngƣời, mà còn thực hiện vai trò, chức năng cứu thế trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, qua đó góp phần giúp cộng đồng tín đồ nỗ lực vƣơn lên, làm chủ bản thân, điều chỉnh hành vi, đạo đức, lối sống cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Do nội dung, tính chất và đặc biệt với tính thiết thực của nó, tôn giáo nói chung, và tôn giáo nội sinh mang tính cứu thế vùng Nam Bộ nói riêng đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nƣớc với các công trình phong phú khác nhau: 2.
Nhóm các ôn tr n n n ứu lý luận un về t n ứu t ế trong tôn giáo và đặ đ ểm t n ứu t ế tôn áo Các công trình nghiên cứu về tính cứu thế của tôn giáo chƣa nhiều. Nội dung của tính cứu thế trong tôn giáo đƣợc xuất hiện rải rác trong các ấn phẩm của đạo. Chẳng hạn nhƣ trƣớc năm 975, tính cứu thế trong tôn giáo đƣợc tác giả C.Coleman Luck trình bày trong tác phẩm c cứu nghĩa là g , do Học viện Moody phát hành. Trong tác phẩm này, xuất phát từ giáo lý của Kitô giáo, tác giả đi sâu luận giải các vấn đề nhƣ: Sự cứu rỗi nghĩa là gì Tại sao sự cứu rỗi lại cần thiết Quá khứ, hiện tại và tƣơng lai của những ngƣời đƣợc cứu ra sao i là Cứu Chúa.
Thông qua tác phẩm này, tác giả phần nào cung cấp quan niệm của Kitô giáo về cứu thế. Nguyên nhân vì sao phải thực hiện công cuộc cứu thế Và con ngƣời làm gì để có thể nhận đƣợc ân sủng cứu thế của Chúa Giêsu Trên cơ cở kế thừa khái niệm cứu rỗi, nguyên nhân, nội dung, mục đích của sự cứu rỗi trong quan niệm của Kitô giáo, tác giả luận án đi vào 5 làm rõ quan niệm cứu thế của Kitô giáo, từ đó làm cơ sở cho việc rút ra khái niệm cứu thế và tính cứu thế trong tôn giáo. Tác phẩm Biện Chứng Giải Thoát Trong Tƣ Tƣởng Ấn Độ của tác giả Nghiêm Xuân Hồng do nhà xuất bản Quan Điểm, Sài Gòn phát hành năm 966. Tác phẩm phác hoạ những nét chính trong tƣ tƣởng biện chứng giải thoát của các giáo lý Ấn Độ.
Tác phẩm phân tích nguyên nhân của nỗi khổ chúng sinh, chỉ ra con đƣờng, biện pháp để giải thoát chúng sinh khỏi nỗi khổ, đạt tới trạng thái niết bàn, tịch tịnh, tịch diệt.