CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, thé giới vẫn tiếp tục đặt tam quan trọng của nguôn nhiên liệu hóa thạch lên hàng dau. Nhu cau tiêu thụ nguồn năng lượng này không ngừng gia tăng trong khi các nguồn năng lượng tái tạo khác chưa thể đáp ứng được, ngoài ra, chỉ phí phát hiện các mỏ mới cao và thường tập trung ở những khu vực có điều kiện tự nhiên bất lợi như vùng nước sâu xa bờ, vùng cực, vùng có điều kiện địa chất phức tạp.nên công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác có hiệu quả các mỏ dầu khí mới ngày càng trở nên thách thức, khó khăn, đòi hỏi những công nghệ tiên tiễn hơn. Van đề cấp thiết hiện nay là làm sao để khai thác tối đa lượng dầu còn sót lại trong các mỏ hiện tại. Vì thế việc nghiên cứu thu hồi dầu tăng cường đã được tiến hành và ngày càng quan tâm.
Ngành công nghiệp Dâu khí Việt Nam đóng một vai trò rất quan trọng trong nên kinh tế Quốc dân, chiếm đến 30% GDP của cả nước. Tuy nhiên, theo xu hướng chung của thế giới, các mỏ dầu khí ở Việt Nam đang trong giai đoạn suy giảm sản lượng, nên van dé tăng cường thu hôi dau lại càng phải được quan tâm nghiên cứu nhiêu hơn. Để đảm bảo duy trì sản lượng khai thác cho các mỏ trong những năm tiếp theo, việc nghiên cứu lựa chọn các phương pháp hợp ly dé tận thu dau là cấp thiết. Trong những năm gan đây, phương pháp bơm ép khí — nước đồng thời CO, — SWAG được nghiên cứu, áp dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới và đã cho những kết qua rất khả quan (Wafaa Al-Ghanim, 2009).
Tại Việt Nam, mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về thu hồi dau tăng cường nhưng đến nay những dự án được ứng dụng vào thực tế còn rất hạn chế. Tính đến hiện tại, chỉ có một dự án bơm ép thử nghiệm khí hydrocarbon luân phiên nước tại mỏ Rang Đông, điều hành bởi công ty Japan Vietnam Petroleum Corporation (JVPC).Vi vậy, phương pháp SWAG nay rất cần thiết được nghiên cứu và lựa chọn áp dụng trong điều kiện vỉa ở Việt Nam. Từ những yêu cau cấp thiết như trên, tác giả đã lựa chọn “Toi Uu Hod Quá Trình Bom Ep Khí — Nước Đông Thời CO, — SWAG trong Tang Cát Kết Oligocene Mo Vina, Bồn Trũng Cứu Long” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc Si.2 Tinh hình nghiên cứu 1.1 Trên thế giới a. Ole Andreas Knappskog (2012).
Evaluation of WAG injection at Ekofisk. University of Stavanger. Tac gia nghiên cứu, đánh giá kha nang áp dụng phương pháp bom ép khí nước luân phiên sử dụng khí đồng hành (HC-WAG) thông qua các thông số tác động vỉa dựa trên mô hình mô phỏng cho mỏ Ekofisk, phía Bắc Norwegian Sector thuộc Biển Bắc. Kết quả mô phỏng thí nghiệm Slimtube Test xác định áp suất trộn lẫn tối thiểu (MMP từ 6900 psi đến 7100 psi) và khí đồng hành làm giàu tôi thiểu (MME = 6000 psi) là rất cao, vì vậy phương pháp HC-WAG được tiến hành là không trộn lẫn (Immiscible WAG).
Đề đánh giá một cách chính xác tiềm năng thu hồi dầu tam cấp của phương pháp HC-WAG cần phải nghiên cứu cơ chế thu hồi dau ở cả quy mô kênh rỗng (microscopic scale) và quy mô toàn mỏ (macroscopic scale). Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu lượng khí bão hòa bị bẫy lại trong lỗ rỗng (sau một quá trình hấp thụ pha dính ướt thay thế pha không dính ướt khí) và hiện tượng trễ của độ thâm pha ở tỉ lệ lỗ rỗng. Tiến hành mô phỏng khai thác ở quy mô mỏ, các phương án bơm ép HC-WAG đều cho thấy hiệu quả vượt trội so với trường hợp cơ sở là bơm ép nước liên tục. Thông số vận hành của phương pháp HC-WAG được đưa ra là tỉ lệ WAG và kích thước nút WAG.
Theo đó, trường hợp bơm ép theo tỉ lệ WAG 2:1 cho thu hồi dau lớn nhất (tăng 8.4 triệu thùng dầu quy đổi so với trường hợp co sở) và nếu càng tăng tỉ lệ WAG thì lượng dau thu hồi càng giảm. Tương tự, sử dụng kích thước nút WAG 0.4 thể tích lỗ rỗng được xem là phương án tối ưu (gia tăng 4.4 triệu thùng dầu quy đổi so với trường hop cơ sở). Mặc dù đạt được những kết quả khả quan, tuy nhiên kết quả xác định MMP và MME chỉ mới dựa trên mô hình mô phỏng. Vì vậy, tác giả kién nghị cần tiến hành thí nghiệm Slimtube Test trong phòng thí nghiệm dé xác định MMP và MME.
Một điểm quan trọng nữa khi mô phỏng khai thác bằng bơm ép HC-WAG, mạng ô lưới cân được chia nhỏ và làm min hơn dé giảm thiêu sai sô, tăng độ tin cậy. Evaluation of simultaneous water and gas injection using CO;. Louisiana State University. Trong luận văn này, tac gia tiễn hành một loạt các thí nghiệm trên mẫu lõi băng các phương pháp khác nhau như: bơm ép khí CO; liên tục (CGI), bơm ép khí nước luân phiên sử dụng khí CO, theo tỉ lệ 1:1 với kích thước nút WAG là 0.25 thể tích 16 rỗng và bon phương án bơm ép khí nước đồng thời (SWAG, f, = 0.
Những thí nghiệm này có xem xét đến sự ảnh hưởng của các yếu tố như tính dính ướt của đá, tốc độ dòng và áp suất một cách chặt chẽ dé có thé đánh giá day đủ nhất trong các trường hợp bơm ép. Sau khi bơm ép 2 PV khí CO›, phương pháp SWAG với f, = 0.4 thu hồi được 96.92% lượng dầu sót, CGI cho hệ số thu hỏi là 89.98% và WAG là 86.6 thu hồi được 83% ,f,=0.2 thu hồi lần lượt là 75. Lượng khí thấp nhất tương ứng với trường hop SWAG (f, = 0⁄4) là 15.54 Mscf/bbl, tiếp đến là CGI với 16. Các trường hợp còn lại đều có mức sử dụng khí trên 17.
Từ những kết quả thí nghiệm có được, cho thấy phương pháp bơm ép khí nước đồng thời sử dụng CO; trong việc thu hồi dầu tăng cường phụ thuộc rất lớn vào giá trị lưu lượng dòng tỷ đối của khí (f,) và trong một số trường hợp SWAG sử dụng CO, có khả năng thu hồi tốt hơn phương pháp CGI va WAG. Trong những nghiên cứu xa hơn nữa, tác giả kiến nghị có thể tiến hành thêm các phương án SWAG với f, = 0.9 dé tim ra trường hợp toi ưu. Helena Lucinda Morais Nangacovie (2012). Application of WAG and SWAG injection techniques into the Norne E-segment Field.
Msc Project in Petroleum Engineering. Norwegian University of Science and Technology. Sau giai đoạn khai thác sơ cấp va thứ cap để duy tri áp suất via, lượng lớn dau còn sót lại trong vỉa ở mỏ Norne E-segment. Một số phương pháp đã được nghiên cứu dựa trên những mô phỏng để làm giảm dầu sót bị bẫy lại (bởi lực mao dẫn) và cải thiện khả năng thu hồi.
Ngoài ra, mỏ Norne E-segment lại chịu tác động mạnh mẽ của những đứt gấy và màng chăn địa tâng. Phương pháp bơm ép khí — nước luân phiên (WAG) va bơm ép khí — nước đồng thời (SWAG) được dé xuất là làm tăng sản lượng khai thác ở mỏ Norne E- segment vì có thé kiểm soát được độ linh động của khí và lực mao dẫn, đảm bảo hiệu suat đây của khí và hiệu suat quét thê tích của nước bơm ép. Dựa trên những mô hình mô phỏng via sử dụng phần mém Eclipse 100, Black oil simulator, tác giả đã phân tích độ nhạy của các thông số như: chu kỳ WAG, tỷ lệ WAG kết hop với thông số lưu lượng bơm ép ở hai chế độ thấp và cao. Trong đó, ba chu ky bơm ép WAG được dé xuất là 3 tháng, 6 tháng va 1 năm, với nhiễu tỷ lệ WAG được tiến hành dựa trên hai chế độ lưu lượng bơm ép.
Kết quả mô phỏng cho thay chu kỳ WAG không ảnh hưởng đến lưu lượng khai thác ở chế độ lưu lượng bơm ép thấp, nhưng lại có ảnh hưởng đáng chú ý ở chế độ lưu lượng bơm ép cao, cộng với ty lệ WAG tối ưu tìm được là 1:3. Sau đó tác giả tiến hành mô phỏng thử nghiệm cho ba kịch bản mô hình giếng bơm ép sử dụng cho cả hai kỹ thuật WAG và SWAG: (1) sử dụng giếng bơm ép đã có sẵn, (2) sử dụng giếng bơm ép đã có sẵn nhưng với cấu hình hoàn thiện giếng mới trong hai tập Ile và Tofte, (3) sử dụng giếng bơm ép mới với cau hình hoàn thiện giếng mới. Kết quả cho thấy, với kịch bản thứ 3 sử dụng kỹ thuật SWAG cho hệ số thu hoi dầu là 73%, cao hơn khoảng 5% so với khi áp dụng kỹ thuật WAG thông thường, ở chế độ bơm ép lưu lượng cao. Phạm Đức Thắng (2014).
Nghiên cứu các giải pháp hợp lý dé tận thu dầu trong cát kết Miocene ha, mó Bach Ho. Luận án Tiến sĩ Kỹ thuật. Trường Đại Học M6 Dia Chất. Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, các kết quả thí nghiệm, các kết quả đánh giá dựa trên mô hình mô phỏng mỏ của luận án, tác giả đã rút ra một số kết luận quan trọng sau: Áp suất trộn lẫn tối thiểu của dau vỉa với khí đồng hành của tầng cát kết Miocene hạ, mỏ Bạch Hồ là 350 bar (5145 psi).
Dé giảm áp suất trộn lẫn tối thiểu có thé trộn lẫn khí đồng hành với LPG, khí thấp áp hay condensate. MMP sẽ dat được đúng bằng áp suất vỉa hiện tại là 255 bar (3748 psi) khi trộn lẫn 40% khí thấp áp (khí tách bậc 2 tại mỏ) với 60% khí đồng hành. Nếu khí đồng hành được làm giàu băng LPG với các ty lệ pha trộn lần lượt là: 5, 10, 20, 30 và 40% mol thì MMP có thể giảm xuống tương ứng là 315 bar (4630 psi), 291 bar (4278 psi), 238 bar (3498 psi), 185 bar (2720 psi) va 140 bar (2058 psi). Két quả thí nghiệm đã chi ra rang WAG trước bơm ép nước có thé thu hồi 70.2% lượng dau trong mau, trong khi đó bơm ép nước chi đạt hiệu quả thu hồi khoảng 55.
WAG tại thời điểm sau bơm ép nước sé tận thu thêm được từ 15. Theo kết quả dự báo sản lượng cho thấy các phương án bơm ép WAG cho mô hình Miocene hạ đã chứng tỏ được hiệu quả thu hồi dầu cao hon hắn so với bơm ép nước. Hệ số thu hồi dầu băng phương pháp bơm ép WAG tăng thêm từ 2 — 10% và độ ngập nước giảm từ 90 — 45% so với phương pháp bơm ép nước trong giai đoạn khái thác thứ cấp.