Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TẢI SẢN DO NGƢỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƢỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI PHẠM NÀY TRONG LUẬT HÌNH SỰ. Khái niệm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có Trong Đại từ điển tiếng Việt, chứa chấp được hiểu là "chứa, cất, giữ một cách trái phép" [46, tr. 412], còn tiêu thụ được hiểu là "bán được (hàng hóa)" [46, tr.
Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hiểu theo nghĩa chung nhất là hành vi chứa, cất, giữ một cách trái pháp luật hoặc bán một cách trái pháp luật tài sản do người khác phạm tội mà có. Khái niệm tài sản được quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản". Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại dưới một hình thức nhất định, có thể đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, nằm trong sự chiếm hữu của con người, có giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự. Khi là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản… vật phải nằm trong sự chiếm hữu của chủ sở hữu tài sản.
Ngoài vật, tiền, giấy tờ có giá cũng được coi là tài sản. Giấy tờ có giá trong hoạt động kinh tế hoặc giao dịch dân sự rất đa dạng, Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 02/2005/ QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 04-01-2005 quy định: "Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua". Giấy tờ có giá có nhiều hình thức khác nhau, tên gọi của giấy tờ có giá có thể là: cổ phiếu, séc, giấy ủy nhiệm chi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm… Những loại giấy tờ này có tính chất chung là có thể định giá được bằng tiền và khi đưa vào lưu thông dân sự chúng có thể thay thế tiền. Tuy nhiên, giấy tờ có giá lại được chia làm hai loại: giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá vô danh.
Theo Điều 4 của Quy chế trên đây thì: "Giấy tờ có giá vô danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu. Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá". Như vậy, chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản…. Khi lấy đi loại giấy tờ này, người phạm tội có thể thực hiện các quyền sở hữu đối với tài sản được giấy tờ đó xác nhận.
Họ có thể đem giấy tờ này đi chuyển nhượng như: mua, bán, tặng, cho, trao đổi mà không phải thỏa mãn thêm bất kỳ điều kiện nào liên quan đến giấy tờ này. Giấy tờ có giá hữu danh tuy có thể đem chuyển nhượng trong giao dịch dân sự nhưng chỉ chủ sở hữu đứng tên trong giấy tờ đó mới có khả năng thực hiện được sự chuyển nhượng đó. Vì vậy, giấy tờ có giá hữu danh không thể trở thành đối tượng tác động của các loại tội phạm trên. Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền tài sản như sau: "Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" [41, tr.
Đây là quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện các quyền đó, chủ sở hữu sẽ có được tài sản. Quyền tài sản cũng không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản…. bởi lẽ chỉ chủ sở hữu mới có thể thực hiện quyền này trong giao dịch dân sự. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ sự phân tích ở trên có thể thấy, thuật ngữ "tài sản" trong cụm từ: chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là vật, tiền, giấy tờ có giá vô danh Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, mặc dù có mối liên hệ về mặt khách quan với tội phạm do người khác thực hiện, nhưng không phải là nguyên nhân gây ra hậu quả của tội phạm đó.
Đây là đặc điểm giúp phân biệt hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với những hành vi của người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức trong đồng phạm. Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng nó không nằm trong mối liên kết thống nhất với tội phạm được thực hiện bởi người khác. Người thực hiện tội phạm trước đó không biết trước được việc tài sản do mình mang về từ hành vi phạm tội sẽ được người khác chứa chấp hoặc tiêu thụ. Điều đó có nghĩa, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không tác động vào mặt ý thức chủ quan đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước đó, không ảnh hưởng đến quá trình thực hiện tội phạm của người đó.
Mặt khác, cần phân biệt tội che giấu tội phạm và tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Cả hai tội phạm này có những điểm giống nhau như sau: Thứ nhất, đều được thực hiện sau khi tội phạm do người khác thực hiện đã hoàn thành và kết thúc trên thực tế. Tội phạm hoàn thành là một khái niệm pháp lý chỉ hành vi phạm tội đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm nhất định được quy định tại Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, còn tội phạm kết thúc là một khái niệm để chỉ tội phạm không được thực hiện trong thực tế nữa mà không kể lý do gì. Tội phạm có thể kết thúc trước khi tội phạm hoàn thành, cũng có thể kết thúc cùng với thời điểm tội phạm hoàn thành hoặc kết thúc sau thời điểm tội phạm hoàn thành.
Từ thời điểm tội phạm hoàn thành 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho đến khi tội phạm kết thúc là giai đoạn tội phạm hoàn thành. Trong giai đoạn này, tội phạm vẫn còn đang tiếp diễn, cho nên về mặt lý thuyết, vẫn có thể xuất hiện hành vi đồng phạm; hành vi này vẫn có thể có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội chung. Người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, cũng như người phạm tội che giấu tội phạm nếu có hứa hẹn trước với người phạm tội, thì thời điểm hứa hẹn trước phải ở thời điểm trước khi tội phạm đã hoàn thành và kết thúc trên thực tế và trong trường hợp này, người hứa hẹn trước sẽ chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hoặc hứa trước sẽ che giấu tội phạm thì bị coi là người đồng phạm tội tương ứng. Thứ hai, người phạm các tội này đều không có sự thỏa thuận trước với người phạm tội và hành vi phạm tội do những người này thực hiện không nằm trong mối quan hệ nhân quả với tội phạm đó.
Tuy vậy, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có khác với tội che giấu tội phạm ở những điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, đối tượng của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ có thể là tài sản do người khác phạm tội mà có, còn ở tội che giấu tội phạm, người phạm tội chẳng những che giấu các tang vật của tội phạm (trong đó bao gồm cả những tài sản do người khác phạm tội mà có) mà còn che giấu người phạm tội, các dấu vết của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Thứ hai, khi che giấu tội phạm, người che giấu biết rõ hành vi của mình tạo thuận lợi cho người phạm tội trốn tránh pháp luật, cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, thì người phạm tội chỉ biết tài sản mà mình chứa chấp, tiêu thụ là tang vật phạm pháp, chỉ biết chứa chấp, tiêu thụ tài sản đó với mục đích vụ lợi,mà không có ý thức cản trở việc phát hiện, điều tra và xử lý người phạm tội. Vì vậy, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được coi là một trong những tội xâm phạm trật tự, an toàn xã hội.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tính chất của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nguy hiểm hơn so với tội che giấu tội phạm, bởi lẽ hành vi đó gián tiếp khuyến khích người phạm các tội có tính chất chiếm đoạt tài sản, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, đồng thời nó cũng gây trở ngại cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, mặc dù người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản có thể không ý thức được vấn đề đó. Xuất phát từ tính chất nguy hiểm của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, trong pháp luật hình sự hiện hành, nhà làm luật quy định hình phạt đối với tội này cao hơn hình phạt đối với tội che giấu tội phạm. Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Trước hết, cần khẳng định, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo PGS.