mở đầu cho hoạt động quản lý đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tới nay đã trải qua 70 năm trưởng thành và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau với cơ cấu tổ chức, tên gọi khác nhau. Qua giai đoạn phát triển, từ trước Luật Đất đai năm 2003 việc tổ chức tham mưu cho các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến các xã phường, thị trấn đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai đều do các cơ quan địa chính và cán bộ địa chính (cấp xã) thực hiện. Trong từng giai đoạn mục tiêu của công tác đăng ký đất đai và hệ thống cơ quan thực hiện nhiệm vụ này có khác nhau, song nhìn chung nó luôn là một công tác quan trọng được thực hiện liên tục, phục vụ cho nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai của từng thời kỳ. Ở cấp Bộ và tỉnh các cơ quan chuyên môn này cũng thành lập các đơn vị sự nghiệp trực thuộc (trung tâm dịch vụ địa chính) để phục vụ các nhiệm vụ trong lãnh vực đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, xây dựng hồ sơ địa chính, thống kê, kiểm kê đất đai.
Nhưng vị trí của tổ chức dịch vụ công về đất đai chưa được xác định trong Luật Đất đai 1. Giai đoạn từ khi có Luật 2003 đến trước Luật Đất đai 2013 Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX Đảng ta đã vạch ra những hạn chế của pháp luật về đất đai trong thời gian qua, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân và đề ra các biện pháp khắc phục. Quan điểm chỉ đạo tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai đã xác định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quản lý đất đai của nhà nước phải thực hiện là “Tổ chức hệ thống quản lý nhà nước về đất đai từ Trung ương đến cơ sở. Quản lý các hoạt động hành chính công và dịch vụ công về đất đai”1.
Các quan điểm của Đảng trong Nghị quyết nói trên đã được thể chế hoá khá đầy đủ và cụ thể trong Luật Đất đai năm 2003, từ đây lần đầu tiên Luật đã quy định bên cạnh các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai còn có cơ quan dịch vụ công là hệ thống Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh và huyện. Khoản 2 Điều 64 Luật Đất đai 2003 quy định: “Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng chỉnh lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ” 1 Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa IX, tr 67 9 Mô hình đơn vị sự nghiệp công lập của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất theo quy định tại Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV sau đó được thay thế theo Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện, trong đó Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp huyện thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất: Chịu sự chỉ đạo về.quản lý và sử dụng biên chế của.Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và chỉ đạo trực tiếp, toàn diện về công tác chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp; Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lãnh vực công tác được giao cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường trực thuộc. Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật. Về chức năng của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất Theo quy định tại Khoản 1, Điều 1 Thông tư số 05/2010/TTLT-BTNMT- BNV–BTC, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công “có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý biến động về sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, xây dựng và quản lý hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật”.
Từ quy định trên, thể hiện 3 vấn đề: Thứ nhất, trước đây các chức năng của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất do cơ quan địa chính các cấp tổ chức thực hiện; Từ Luật Đất đai 2003, các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân các cấp quản lý nhà nước về đất đai chỉ thực hiện vai trò hướng dẫn, chỉ đạo việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính ở địa phương, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh và huyện là cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên2. Thứ hai: Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là đơn vị sự nghiệp công lập nhưng có chức năng thực hiện một số nhiệm vụ với vai trò giúp việc cho cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương. Cụ thể, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất có chức năng thực hiện một số nội dung quản lý nhà nước về đất đai quy định tại Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 gồm: đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa 2 Điểm 5.2 khoản 5 mục 1 Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính. 10 chính, chỉnh lý biến động về sử dụng đất, thực hiện các thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thống kê, kiểm kê đất đai.
Đây là một đặc điểm đặc thù của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất so với các đơn vị sự nghiệp khác được ghi nhận trong Luật Đất đai 2003. Thứ ba: Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là đơn vị thực hiện dịch vụ công về đất đai. Theo quy định của Luật Đất đai 2003, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng chỉnh lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ3. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất Theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV–BTC ngày 15/3/2010 của liên Bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và bộ Tài chính.
Trong đó có phân cấp rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh (15 nhiệm vụ, quyền hạn) và cấp huyện (12 nhiệm vụ, quyền hạn). Nội dung phân cấp chủ yếu dựa vào đối tượng chủ thể đăng ký, cấp giấy tập trung ở 5 nhóm công việc cơ bản sau: - Nhóm 1: Thực hiện các thủ tục về đăng ký, cấp giấy, chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là cơ quan đầu mối thực hiện việc đăng ký, tiếp nhận, kiểm tra, chuẩn bị hồ sơ để chuyển cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và thực hiện và chỉnh lý biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Trong đó, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp Tỉnh làm đầu mối thực hiện các thủ tục trên đối với người sử dụng đất là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt nam định cư ở nước ngoài (ngoại trừ trường hợp mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở), tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài; Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp Huyện làm đầu mối thực hiện các thủ tục đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt nam4.
- Nhóm 2: Thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Theo quy định của pháp luật đất đai trước Luật Đất đai năm 2003, công tác thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất do các cơ quan 3 Khoản 2 Điều 64 Luật Đất đai 2003. 4 Điều 2 Thông tư số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV–BTC ngày 15/3/2010 của liên Bộ Bộ Tính thực hiện Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và bộ Tài chính 11 địa chính thực hiện. Sau khi có Luật Đất đai năm 2003, theo quy định của Luật Đất đai 2003, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND tỉnh thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp tỉnh.
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp huyện và cấp xã. - Nhóm thứ ba: Lập và quản lý toàn bộ hồ sơ địa chính đối với tất cả các thửa đất; xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu địa chính và phát triển hệ thống thông tin đất đai. Chỉnh lý hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính khi có biến động về sử dụng đất và về sở hữu tài sản gắn liền với đất.